Hành động thuê công ty đòi nợ để đòi nợ trong thi hành án dân sự

Chủ Nhật, 08/01/2017 | 14:08 GMT+7 | 
Lượt xem: 2785

Tóm tắt câu hỏi

Hành động thuê công ty đòi nợ để đòi nợ trong thi hành án dân sự

Cho e hỏi khoảng 2 năm trước bà D có kiện e và e đã thua kiện buộc phải trả cho bà D với số tiền 650 000 000 triệu đồng với 7 cái biên nhận. Hồ sơ thì bên thi hàng án đang thu lý thì bà D có thuê công ty đòi nợ mướn và họ đã gửi Thông báo hồ nợ xuống cho e. Nay e muốn biết là bà D có vi phạm pháp luật hay không và bà D sẽ bị gì?

Người gửi: Mạnh Linh (Hà Nội)

Hành động thuê đòi nợ mướn trong thi hành án dân sự

( Ảnh minh họa:Internet)
Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi 1900 6589

 

Luật sư tư vấn

Xin chào bạn! Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi của mình tới Luật Việt Phong. Về câu hỏi của bạn, công ty Luật Việt Phong xin tư vấn và hướng dẫn như sau:

1/ Cơ sở pháp lý:

– Luật Thi hành án Dân sự 2008

– Bộ Luật Hình sự 1999 sửa đổi bổ sung 2009

2/ Hành động thuê công ty đòi nợ để đòi nợ trong thi hành án dân sự

Căn cứ theo Điều 9 Luật Thi hành án Dân sự 2008 quy định về Tự nguyện và cưỡng chế thi hành án dân sự như sau:

"1. Nhà nước khuyến khích đương sự tự nguyện thi hành án.

2. Người phải thi hành án có điều kiện thi hành án mà không tự nguyện thi hành thì bị cưỡng chế thi hành án theo quy định của Luật này.”

Căn cứ theo Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự 2008 quy định về Thời hiệu yêu cầu thi hành án như sau:

"1. Trong thời hạn 05 năm, kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền ra quyết định thi hành án.

Trường hợp thời hạn thực hiện nghĩa vụ được ấn định trong bản án, quyết định thì thời hạn 05 năm được tính từ ngày nghĩa vụ đến hạn.

Đối với bản án, quyết định thi hành theo định kỳ thì thời hạn 05 năm được áp dụng cho từng định kỳ, kể từ ngày nghĩa vụ đến hạn.”

Theo quy định pháp luật, nhà nước khuyến khích việc 2 bên đương sự tự nguyện thi hành án. Trong thời hạn 5 năm nếu chưa giải quyết được thì lúc này Tòa án mới can thiệp bằng biện pháp cưỡng chế. Do vậy theo như thông tin bạn cung cấp thì khoảng thời gian sau khi bản án có hiệu lực thì mới là 2 năm, việc 1 bên (bà D) có thuê công ty đòi nợ (giả thuyết công ty được thành lập trên đầy đủ phương diện về điều kiện) là trái quy định pháp luật hay không còn tùy vào ý chí của bà D. 2 năm này đang là thời gian cho 2 bên tự thỏa thuận giải quyết tự nguyện thi hành, Do thông tin bạn cung cấp chưa đủ rõ ràng nên chúng tôi chia thành 2 trường hợp sau đây:

Trường hợp 1: Công ty đến đòi nợ 1 cách "chuyên nghiệp”, đầy đủ thủ tục và không có bất kì sự đe dọa hay hành vi xâm hại nào đối với bạn. Nói cách khác, ý chỉ của bà D là tốt.

Việc bà D thuê công ty đòi nợ đến như 1 hành động mang tính "nhắc nhở” việc bạn phải nhanh chóng thi hành án dân sự là trả lại số tiền cho bà D. Hành vi này cũng phù hợp với quy định của pháp luật khi Nhà nước khuyến khích 2 bên đương sự tự nguyện thi hành án, hơn thế nữa công ty đòi nợ thuê (cung ứng dịch vụ đòi nợ) Nhà nước không cấm và có cấp phép giấy tờ hoạt động đầy đủ, do đó hành vi của bà D không được coi là trái quy định pháp luật nếu bà đơn thuần chỉ muốn "ủy quyền” cho công ty giúp bà đòi nợ từ bạn.

Ngoài ra họ cũng không có bất kì lời đe dọa hay hành vi nào xâm hại tới sức khỏe, tính mạng của bạn nên việc làm này không trái pháp luật và bà D không phải chịu hình thức xử phạt nào.

Trường hợp 2: Công ty đến đòi nợ thuê có hành vi đe dọa và xâm hại tới bạn, cưỡng đoạt tài sản của bạn vô căn cứ. Nói cách khác, ý chí của bà D là không tốt.

Nếu công ty đòi nợ thuê đến đòi tiền bạn giúp bà D cùng với các hành vi đe dọa và xâm hại tới sức khỏe, tính mạng của bạn là hoàn toàn trái quy định pháp luật. 

Trong trường hợp này, bà D sẽ bị coi là đồng phạm gián tiếp với công ty đòi nợ trong 1 trong 2 tội sau: Tội cưỡng đoạt tài sản (Điều 135 Bộ Luật Hình sự 1999 sửa đổi bổ sung 2009) hoặc Tội cố ý gây thương tích hay gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Điều 104 Bộ Luật Hình sự 1999 sửa đổi bổ sung 2009)

Căn cứ theo Điều 133 Bộ Luật Hình sự 1999 sửa đổi bổ sung 2009 quy định về Tội cưỡng đoạt tài sản như sau:

"1. Người nào đe doạ sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

đ) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”

Theo quy định pháp luật thì tội cưỡng đoạt tài sản có thể bị phạt tù từ 1-5 năm; từ 3-10 năm; 7-15 năm; 12-20 năm hoặc bị phạt tiền từ 10-100triệu đồng.

Căn cứ theo Điều 104 Bộ Luật Hình sự 1999 sửa đổi bổ sung 2009 quy định về Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác như sau:

"1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:

a) Dùng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người;

b) Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân;

c) Phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người;

d) Đối với trẻ em, phụ nữ đang có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

đ) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;

e) Có tổ chức;

g) Trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục;

h) Thuê gây thương tích hoặc gây thương tích thuê;

i) Có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm;

k) Để cản trở người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân

2. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% hoặc từ 11% đến 30%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

3. Phạm tội gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc dẫn đến chết người hoặc từ 31% đến 60%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.

4. Phạm tội dẫn đến chết nhiều người hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác, thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân.”

Theo quy định pháp luật thì tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác  có thể bị phạt tù từ ít nhất 6 tháng đến nhiều nhất là 20 năm hoặc chung thân, tùy vào mức độ thương tật của người bị hại.

Căn cứ theo Điều 53 Bộ Luật Hình sự 1999 sửa đổi bổ sung 2009 quy định về Quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm như sau:

"Khi quyết định hình phạt đối với những người đồng phạm, Toà án phải xét đến tính chất của đồng phạm, tính chất và mức độ tham gia phạm tội của từng người đồng phạm.

Các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng hoặc loại trừ trách nhiệm hình sự thuộc người đồng phạm nào, thì chỉ áp dụng đối với người đó.”

Do vậy bà D trong trường hợp này sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự chung cùng với công ty đòi nợ thuê. Ngoài ra tòa án còn xem xét thêm về mức độ tham gia của đồng phạm để cá thể hóa trách nhiệm hình sự của mỗi người.

Trên đây là tư vấn của công ty Luật Việt Phong về vấn đề Hành động thuê công ty đòi nợ để đòi nợ trong thi hành án dân sự. Chúng tôi hi vọng rằng quý khách có thể vận dụng các kiến thức kể trên để sử dụng trong công việc và cuộc sống. Nếu có vấn đề pháp lý nào khác cần tư vấn quý khách vui lòng gọi điện tới tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến 24/7 của công ty Luật Việt Phong để gặp luật sư tư vấn và chuyên viên pháp lý.

Để được tư vấn và đăng ký sử dụng dịch vụ quý khách xin vui lòng liên hệ
TỔNG ĐÀI LUẬT SƯ TƯ VẤN PHÁP LUẬT TRỰC TUYẾN 24/7: 1900 6589
TỔNG ĐÀI LUẬT SƯ TƯ VẤN PHÁP LUẬT
 1900 6589
  Lưu ý: Các thông tin pháp lý đăng tải được trả lời bởi các luật sư, chuyên viên tư vấn uy tín, giàu kinh nghiệm. Tuy nhiên tất cả các thông tin, trích dẫn chỉ mang tính chất tham khảo do các văn bản pháp luật dẫn chiếu có thể đã hết hiệu lực hoặc được thay thế tại thời điểm hiện tại. Khách hàng truy cập trang không được áp dụng một cách tùy tiện mà chưa tham khảo ý kiến của luật sư.
VIỆT PHONG - TIÊN PHONG LUẬT VIỆT

Tổng đài luật sư tư vấn pháp luật
Văn phòng phía Bắc (Hà Nội)
P.1714-CT2B, tòa nhà 789, khu đô thị Ngoại Giao Đoàn, P.Xuân Đỉnh, Q.Bắc Từ Liêm


Menu dịch vụ

CHÚNG TÔI HỖ TRỢ KHÁCH HÀNG 7 ngày trong tuần với hotline
HOTLINE TƯ VẤN PHÁP LUẬT
Bản quyền thuộc về Luật Việt Phong - Mọi sự sao chép phải được sự chấp thuận của Công ty Luật Việt Phong bằng văn bản. (© Copyright 2015 - 2019), ® All Reserved.
Gọi luật sư: 19006589