Hoàn cảnh gia đình khó khăn có là cơ sở để xem xét giảm, tạm đình chỉ, miễn thời gian cai nghiện bắt buộc?

Thứ Tư, 26/02/2020 | 14:12 GMT+7 | 
Lượt xem: 1431
Chồng em xuống nhà bè bán gà cho một người bạn. Và c.an xã Phú Xuân vào mời người bạn em ra xa làm việc nhưng thấy chông em có mặt ở đó thì mời chồng em về xã luôn. Thì biết chồng em có sử dụng ma túy đá nhưng cách đó 3 ngày. Gọi về khu vực thì không chịu xác minh cho chồng em có mặt thường xuyên tại địa phương. Và lập hồ sơ đưa chồng em lên Nhị Xuân. Mặc dù trước giờ chồng em không đi đâu khỏi địa phương. Con gái vợ chồng em mới 20 tháng tuổi và em đang mang thai được 3 tháng. Nay em gửi đơn này kính mong LS giúp vợ chồng. Em cảm ơn LS nhiều lắm ạ. Từ ngày chồng em bị bắt đến nay gần 1 tháng em đã mượn nợ khắp nơi để ăn uống và không có khả năng để lo cuộc sống nữa. Chồng em là trụ cột chính, bây giờ chồng em bị như vậy chắc mẹ con em chết quá LS ơi. Kính mong LS thương tình giúp đỡ em
Trần Thúy An

Bài viết liên quan
-  
Người đang cai nghiện có được bảo lãnh về địa phương khi gia đình có hoàn cảnh khó khăn không?
Bị tái nghiện sau khi cai nghiện thì có bị đưa đi cai nghiện bắt buộc không?
Thủ tục đưa người nghiện vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
https://www.luatvietphong.vn/khi-nao-thi-nguoi-nghien-bi-dua-vao-co-so-cai-nghien-bat-buoc-va-thoi-gian-bao-lau-n10042.htmlKhi nào thì người nghiện bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và thời gian bao lâu? Quyết định 595/QĐ-BHXH năm 2017 Quy trình thu bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; cấp sổ bảo hiểm xã hội, thẻ bảo hiểm y tế do Bảo hiểm xã hội Việt Nam ban hành

Cơ sở pháp lý: 


Luật sư tư vấn:

Xin chào bạn! Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi của mình tới Công ty Luật Việt Phong, đối với câu hỏi của bạn Công ty Luật Việt Phong xin được tư vấn và hướng dẫn cho bạn như sau: theo những thông tin bạn chia sẻ, chúng tôi thấy rằng bạn đang thắc mắc về vấn đề pháp lý liên quan cai nghiện bắt buộc.

Sau khi nghiên cứu trường hợp của bạn, vì chưa có đầy  thông tin nên chúng tôi đưa ra 02 trường hợp như sau:

TRƯỜNG HỢP 1: Việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là trái pháp luật khi có đủ ba yếu tố sau:

1.Chồng bạn chưa bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn theo khoản 4 Điều 90 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012:
Điều 90. Đối tượng áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn
1. Người từ đủ 12 tuổi đến dưới 14 tuổi thực hiện hành vi có dấu hiệu của một tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý quy định tại Bộ luật hình sự.
2. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thực hiện hành vi có dấu hiệu của một tội phạm nghiêm trọng do cố ý quy định tại Bộ luật hình sự.
3. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi 02 lần trở lên trong 06 tháng có hành vi trộm cắp, lừa đảo, đánh bạc, gây rối trật tự công cộng mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.
4. Người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên có nơi cư trú ổn định.

2. Có nơi cư trú ổn định: được thể hiện trên Sổ hộ khẩu, Giấy đăng ký thường trú, Giấy xác nhận thường trú tại địa phương.

3. Không có đơn, không ký vào đơn Xin cai nghiện tự nguyện.

Như vậy, biện pháp cần áp dụng phải là biện pháp giáo dục tại địa phương chứ không phải biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Do đó, bạn có quyền làm đơn khiếu nại tới Thủ trưởng cơ quan ban hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc hoặc khởi kiện ra Tòa án theo thủ tục tố tụng hành chính (đơn khiếu nại hoặc đơn khởi kiện gửi kèm giấy tờ chứng minh liên quan)

TRƯỜNG HỢP 2: Việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là có căn cứ pháp luật.

Tức chồng bạn thuộc một trong những trường hợp được quy định tại khoản 3 Điều 3  Nghị định 136/2016/NĐ-CP:
"Điều 3. Đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
1. Người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên, có nơi cư trú ổn định, trong thời hạn 02 năm kể từ ngày chấp hành xong quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn do nghiện ma túy hoặc trong thời hạn 01 năm kể từ ngày hết thời hiệu thi hành quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn do nghiện ma túy mà vẫn còn nghiện.
2. Người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên, có nơi cư trú ổn định, bị chấm dứt thi hành quyết định giáo dục tại xã, phường, thị trấn do nghiện ma túy.
3. Người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên, không có nơi cư trú ổn định.”

Trong trường hợp chồng bạn đã chấp hành biện pháp này hơn 1 tháng nên cần xét đến: Người đang chấp hành có đủ điều kiện được giảm, tạm đình chỉ hoặc miễn chấp hành phần thời gian còn lại tại cơ sở cai nghiện bắt buộc hay không?
Điều 19 Nghị định 221/2013/NĐ-CP quy định như sau:
Điều 19. Giảm thời hạn, tạm đình chỉ hoặc miễn chấp hành phần thời gian còn lại tại cơ sở cai nghiện bắt buộc
1. Học viên đã chấp hành một nửa thời hạn quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, nếu có tiến bộ rõ rệt hoặc lập công thì được xét giảm một phần hoặc miễn chấp hành phần thời gian còn lại.
Học viên có tiến bộ rõ rệt là người nghiêm chỉnh chấp hành nội quy, quy chế, quy trình cai nghiện tại cơ sở, tích cực lao động, học tập, tham gia các phong trào chung của cơ sở và được Hội đồng khen thưởng, kỷ luật của cơ sở cai nghiện bắt buộc (sau đây gọi tắt là Hội đồng) công nhận.
Học viên lập công là người dũng cảm cứu người, cứu được tài sản của Nhà nước, của tập thể hoặc của người khác và được Giám đốc cơ sở cai nghiện bắt buộc khen thưởng; có sáng kiến cải tiến kỹ thuật có giá trị trong lao động, sản xuất, được cơ quan chức năng từ cấp tỉnh trở lên công nhận; có thành tích đặc biệt xuất sắc trong phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc và được tặng giấy khen của Công an hoặc Ủy ban nhân dân cấp huyện trở lên;
2. Học viên bị mắc bệnh hiểm nghèo, phụ nữ mang thai trong thời gian chấp hành quyết định thì được miễn chấp hành phần thời gian còn lại.
3. Trường hợp người đang chấp hành quyết định tại cơ sở cai nghiện bắt buộc ốm nặng có xác nhận của bệnh viện mà được đưa về gia đình điều trị thì được tạm đình chỉ chấp hành quyết định; thời gian điều trị được tính vào thời gian chấp hành quyết định; sau khi sức khỏe được phục hồi mà thời hạn chấp hành còn lại từ 03 tháng trở lên thì người đó phải tiếp tục chấp hành; trong thời gian tạm đình chỉ thi hành quyết định mà người đó có tiến bộ rõ rệt hoặc lập công thì được miễn chấp hành phần thời gian còn lại.
4. Định kỳ hàng quý hoặc đột xuất khi có học viên thuộc diện được giảm thời hạn, tạm đình chỉ hoặc miễn chấp hành phần thời gian còn lại tại cơ sở cai nghiện bắt buộc, Giám đốc cơ sở cai nghiện bắt buộc có trách nhiệm lập hồ sơ đề nghị và tổ chức họp Hội đồng xem xét đề nghị giảm thời hạn, tạm đình chỉ hoặc miễn chấp hành phần thời gian còn lại.
5. Căn cứ danh sách học viên được đề xuất, Hội đồng xem xét, biểu quyết đối với từng trường hợp cụ thể và kết luận theo đa số. Trường hợp số phiếu biểu quyết bằng nhau thì ý kiến của Chủ tịch Hội đồng là ý kiến quyết định.
6. Trong thời hạn 02 ngày, kể từ khi nhận được Biên bản họp của Hội đồng, Giám đốc cơ sở cai nghiện bắt buộc lập hồ sơ đề nghị gửi Tòa án nhân dân cấp huyện nơi cơ sở cai nghiện bắt buộc đóng trụ sở xem xét quyết định.
Hồ sơ đề nghị gồm:
a) Văn bản đề nghị của Giám đốc cơ sở cai nghiện bắt buộc;
b) Danh sách học viên được đề nghị giảm thời hạn, tạm đình chỉ hoặc miễn chấp hành phần thời gian còn lại;
c) Biên bản họp Hội đồng;
d) Kết quả nhận xét, đánh giá hàng tháng của tổ, đội và bản thành tích của từng học viên được đề nghị;
đ) Giấy xác nhận của bệnh viện về tình trạng sức khỏe đối với các trường hợp ốm nặng, bệnh hiểm nghèo, phụ nữ mang thai.
7. Trong thời gian chờ Tòa án nhân dân cấp huyện xem xét, quyết định, nếu người được đề nghị có hành vi vi phạm pháp luật, vi phạm nội quy, quy chế của cơ sở cai nghiện bắt buộc thì Giám đốc cơ sở có trách nhiệm tổ chức họp Hội đồng và làm văn bản đề nghị đưa người đó ra khỏi danh sách xem xét giảm thời hạn, tạm đình chỉ hoặc miễn phần thời gian còn lại gửi Tòa án nhân dân cấp huyện nơi nhận hồ sơ. Trường hợp đã có quyết định giảm thời hạn, tạm đình chỉ hoặc miễn phần thời gian còn lại nhưng chưa thi hành thì đề nghị Tòa án nhân dân cấp huyện xem xét hủy quyết định.

Như vậy có 03 trường hợp được xét giảm, tạm đình chỉ, miễn chấp hành thời gian còn lại tại cơ sở cai nghiện bắt buộc như sau:
1.Đã chấp hành một nửa, có tiến bộ rõ rệt hoặc lập công lớn
2.Bị bệnh hiểm nghèo
3.Là phụ nữ mang thai

Dựa trên căn cứ pháp luật, hoàn cảnh gia đình khó khăn không phải là cơ sở để xem xét giảm, tạm đình chỉ, miễn thời gian chấp hành còn lại. Thực ra, yếu tố hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn, người phải chấp hành là lao động chính của gia đình là cơ sở xem xét hoãn và miễn chấp hành trong trường hợp chưa đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Do việc xử lý tình huống không kịp thời, nên chồng bạn buộc phải cố gắng cải tạo tích cực, thể hiện tiến bộ rõ rệt một nửa thời gian phải chấp hành để làm căn cứ xét gỉam, tạm đình chỉ và miễn thời gian chấp hành còn lại trong tương lai.

Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Việt Phong về cai nghiện bắt buộc. Chúng tôi hi vọng rằng bạn có thể vận dụng các kiến thức kể trên để sử dụng trong công việc và cuộc sống. Nếu có vấn đề pháp lý nào khác cần tư vấn bạn vui lòng gọi điện tới tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến 24/7 của Công ty Luật Việt Phong để gặp luật sư tư vấn và chuyên viên pháp luật.
Để được tư vấn và đăng ký sử dụng dịch vụ quý khách xin vui lòng liên hệ
TỔNG ĐÀI LUẬT SƯ TƯ VẤN PHÁP LUẬT TRỰC TUYẾN 24/7: 1900 6589
TỔNG ĐÀI LUẬT SƯ TƯ VẤN PHÁP LUẬT
 1900 6589
  Lưu ý: Các thông tin pháp lý đăng tải được trả lời bởi các luật sư, chuyên viên tư vấn uy tín, giàu kinh nghiệm. Tuy nhiên tất cả các thông tin, trích dẫn chỉ mang tính chất tham khảo do các văn bản pháp luật dẫn chiếu có thể đã hết hiệu lực hoặc được thay thế tại thời điểm hiện tại. Khách hàng truy cập trang không được áp dụng một cách tùy tiện mà chưa tham khảo ý kiến của luật sư.
VIỆT PHONG - TIÊN PHONG LUẬT VIỆT

Tổng đài luật sư tư vấn pháp luật
Văn phòng phía Bắc (Hà Nội)
Biệt thự 2.11, đường Nguyễn Xuân Khoát, KĐT Ngoại Giao Đoàn, Bắc Từ Liêm (đối diện Đại sứ Quán Hàn Quốc)


Menu dịch vụ

CHÚNG TÔI HỖ TRỢ KHÁCH HÀNG 7 ngày trong tuần với hotline
HOTLINE TƯ VẤN PHÁP LUẬT
Bản quyền thuộc về Luật Việt Phong - Mọi sự sao chép phải được sự chấp thuận của Công ty Luật Việt Phong bằng văn bản. (© Copyright 2015 - 2020), ® All Reserved.
Gọi luật sư: 19006589