Phục hồi doanh nghiệp phá sản nhìn từ mục tiêu Luật Phá sản 2014

Thứ Tư, 24/01/2018 | 14:04 GMT+7 | 
Lượt xem: 2822
Trần Thị Thu Hà - Thạc sỹ, Trường Đại học Kinh tế Nghệ An
Mục tiêu của Luật Phá sản năm 2014 nhằm hạn chế thấp nhất hậu quả do phá sản gây ra, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên góp phần ổn định trật tự kinh tế xã hội. Tuy vậy ngoài mục tiêu nói trên, Luật Phá sản còn tạo cơ hội cho doanh nghiệp phục hồi trở lại trạng thái hoạt động ban đầu. Vấn đề tưởng như vô lý này nhưng lại hiện hữu từ các quy định của Luật Phá sản năm 2014 và đó là sự tiến bộ không chỉ về mặt pháp luật mà còn dưới góc độ xã hội của pháp luật Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Luật Phá sản lần đầu tiên được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 15/6/2004 và đã được thay thế bởi Luật Phá sản năm 2014. Cả hai đạo luật này đều hướng đến mục tiêu bảo vệ một cách có hiệu quả nhất quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ nợ, của người lao động, tạo môi trường kinh doanh lành mạnh và đồng thời bảo vệ quyền lợi của doanh nghiệp, hợp tác xã bị lâm vào tình trạng phá sản, xuất phát từ tính tất yếu của và trách nhiệm bảo đảm sự ổn định, phát triển của nền kinh tế từ phía Nhà nước. Bài viết đề cập một số vấn đề về phục hồi doanh nghiệp phá sản nhìn từ góc độ Luật Phá sản năm 2014.

1. Mục tiêu lập pháp về phục hồi doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán theo Luật Phá sản

Trong nền kinh tế thị trường, phá sản doanh nghiệp là một hiện tượng tất yếu mang tính quy luật khách quan. Chính vì vậy, các quốc gia đã ban hành các quy định pháp luật điều chỉnh việc phá sản với mục tiêu bảo đảm sự ổn định của nền kinh tế và các đối tượng liên quan đến doanh nghiệp (bao gồm doanh nghiệp (DN) theo Luật Doanh nghiệp và Hợp tác xã (HTX) theo Luật Hợp tác xã) bị phá sản, kể cả doanh nghiệp bị phá sản cũng là đối tượng được quan tâm đến.
Về cơ bản, mục tiêu của Luật Phá sản không chỉ nhằm giải quyết ổn thỏa thủ tục phá sản một DN, HTX lâm vào tình trạng phá sản, bảo vệ quyền lợi của các chủ nợ mà còn nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của DN, HTX lâm vào tình trạng phá sản được nhanh chóng thực hiện thủ tục này, miễn trách nhiệm trả nợ và đó cũng là cơ hội để ổn định, thiết lập phương thức sản xuất, kinh doanh mới; đặc biệt là quy định trong Luật Phá sản năm 2004 về thủ tục phục hồi DN lâm vào tình trạng phá sản, đã thể hiện được quan điểm lớn trong luật phá sản hiện đại trên thế giới. "Một doanh nghiệp lớn đổ vỡ sẽ kéo theo sự thất nghiệp, tệ nạn, nhiều khi còn dẫn đến phá sản dây chuyền là nguyên nhân của bất ổn định về kinh tế, chính trị và xã hội. Bên cạnh đó, quá trình thụ lý và tiến hành các thủ tục để thanh lý thường gây ra những thất thoát, lãng phí rất lớn cho xã hội. Luật phá sản lúc này chuyển sang một mục tiêu mới là làm cho doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản "hồi sinh”. Chủ nợ thì lấy được nợ, doanh nghiệp thì thoát khỏi tình trạng phá sản, trở lại hoạt động một cách bình thường. Mục tiêu này của luật phá sản được nhiều nhà nghiên cứu gọi là "hướng vào con nợ” hay "bảo hộ đối với con nợ”, từ đó các quy định của luật phá sản sẽ tập trung theo chiều hướng trên. Bên cạnh đó, thủ tục thanh lý bộ phận cấu thành không thể thiếu của luật phá sản, hoàn thiện trên cơ sở là trình tự pháp lý cuối cùng khi khi con nợ lâm vào tình trạng phá sản không thể phục hồi thành công”[2]. Chính vì lý do đó, người ta mới xem phá sản là một thủ tục phục hồi doanh nghiệp (hoặc thanh lý nợ) đặc biệt, vì nó bao hàm cả thủ tục phục hồi trước tiên.
Trong quá trình xây dựng Luật Phá sản năm 2014 để thay thế Luật Phá sản 2004, các nhà lập pháp cũng đặt ra mục tiêu lập pháp là: "… phải bảo đảm đưa ra những cơ hội thực tiễn cho việc duy trì hoặc tổ chức lại hoạt động của DN, HTX có khả năng phục hồi hoạt động sản xuất, kinh doanh”[3]. Luật chỉ đặt ra khi mà trường hợp DN, HTX lâm vào tình trạng phá sản không có khả năng phục hồi hoạt động sản xuất, kinh doanh, thì mới áp dụng trình tự và thủ tục giải quyết yêu cầu mở thủ tục phá sản theo nguyên tắc dân chủ, công khai, rõ ràng, dễ hiểu, dễ áp dụng, nhanh gọn, công bằng. Như vậy, "mục tiêu của Luật Phá sản là nhằm hạn chế đến mức thấp nhất những hậu quả do phá sản gây ra, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia quan hệ kinh tế trước những rủi ro trong kinh doanh và thông qua đó góp phần ổn định trật tự đời sống xã hội”[4].
Có thể thấy giải pháp đề ra của Luật Phá sản năm 2014 đối với DN, HTX lâm vào tình trạng phá sản là:
- Đưa ra những cơ hội thực tiễn cho việc duy trì hoặc tổ chức lại hoạt động của DN, HTX có khả năng phục hồi hoạt động sản xuất, kinh doanh. Bởi vì nếu DN, HTX có thể phục hồi hoạt động sản xuất, kinh doanh thì những khoản nợ cũng sẽ có cơ hội được thanh toán, vừa bảo đảm sự tồn tại của DN, HTX và những đối tượng liên quan (như người lao động, các đối tác kinh doanh của DN, HTX hay sự ổn định kinh tế trong lĩnh vực hoạt động của DN, HTX). Điều này sẽ nhắm đến mục tiêu không phá sản trong một đạo luật phá sản.
- Nhanh chóng giải quyết việc phá sản DN, HTX trong trường hợp không có khả năng phục hồi. Điều này đặt ra việc quy định pháp luật về thủ tục giải quyết yêu cầu mở thủ tục phá sản phải rõ ràng, dễ hiểu, dễ áp dụng, nhanh gọn, công bằng.
- Việc giải quyết thủ tục phá sản nói chung và thủ tục phục hồi DN, HTX lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán nợ không chỉ là trách nhiệm của DN, HTX lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán nợ hay của Tòa án, mà nó còn là trách nhiệm (đồng thời là quyền) của những chủ thể có liên quan, đặc biệt là các chủ nợ.
Luật Phá sản năm 2014 đã quy định rõ ràng hơn vai trò, trách nhiệm tham gia thủ tục phá sản DN, HTX như: Bổ sung quy định mới về Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản và trách nhiệm của Thẩm phán phụ trách chỉ định Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản (Điều 45); việc giám sát hoạt động của doanh nghiệp, hợp tác xã sau khi có quyết định mở thủ tục phá sản (Điều 49). Đặc biệt là vai trò của Hội nghị chủ nợ thông qua nghị quyết có nội dung áp dụng thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh, làm cơ sở cho DN, HTX mất khả năng thanh toán xây dựng phương án phục hồi hoạt động kinh doanh và tổ chức thực hiện sau khi được thông qua.
Nội dung phương án phục hồi hoạt động kinh doanh của DN, HTX mất khả năng thanh toán phải nêu rõ các biện pháp để phục hồi hoạt động kinh doanh; các điều kiện, thời hạn và kế hoạch thanh toán các khoản nợ. Các biện pháp để phục hồi hoạt động kinh doanh về cơ bản kế thừa quy định tại Luật Phá sản năm 2004[5], gồm:
- Huy động vốn;
- Giảm nợ, miễn nợ, hoãn nợ;
- Thay đổi mặt hàng sản xuất, kinh doanh;
- Đổi mới công nghệ sản xuất;
- Tổ chức lại bộ máy quản lý, sáp nhập hoặc chia tách bộ phận sản xuất;
 - Bán cổ phần cho chủ nợ và những người khác;
- Bán hoặc cho thuê tài sản;
- Các biện pháp khác không trái quy định của pháp luật.
Chỉ có một giải pháp mới được bổ sung vào biện pháp phục hồi hoạt động kinh doanh là "giảm nợ, miễn nợ, hoãn nợ” có tính thực tế rất cao khi mà cả chủ nợ đồng ý với một phương án phục hồi hoạt động kinh doanh của DN, HTX, bảo đảm cho DN, HTX có khả năng tạm thời thoát khỏi mức độ nguy hiểm về mất khả năng thanh toán nợ và thực hiện các giải pháp khác. 04/08 giải pháp khác được Luật Phá sản năm 2014 đưa ra phù hợp hơn so với Luật Phá sản năm 2004 như là: Huy động vốn nói chung (không chỉ là vốn mới); tổ chức lại bộ máy quản lý, sáp nhập hoặc chia tách bộ phận sản xuất (không cần xác định mục tiêu nâng cao năng suất, chất lượng sản xuất); bán cổ phần cho chủ nợ và những người khác (bổ sung thêm nhóm đối tượng là những người khác); bán hoặc cho thuê tài sản nói chung (mở rộng hơn so với quy định về bán hoặc cho thuê tài sản không cần thiết).
Luật Phá sản năm 2014 cũng đã có những quy định mới bảo vệ quyền lợi của DN, HTX khi thực hiện phương án phục hồi hoạt động kinh doanh như: Điều kiện hợp lệ của Hội nghị chủ nợ thông qua phương án phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã là khi có số chủ nợ tham gia đại diện cho ít nhất 51% số nợ không có bảo đảm (Điều 90); Hội nghị chủ nợ được hoãn một lần trong trường hợp không đáp ứng điều kiện hợp lệ; việc tổ chức lại Hội nghị chủ nợ được thực hiện theo quy định (khoản 4 Điều 91); thời hạn để thực hiện phương án phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán theo Nghị quyết của Hội nghị chủ nợ thông qua phương án phục hồi hoạt động kinh doanh hoặc không quá 03 năm (như Luật Phá sản năm 2004) nếu Nghị quyết không quy định (Điều 89)...
Một số phân tích trên cho thấy, quy định của Luật Phá sản năm 2014 là cơ sở có tính định hướng cho việc mở rộng khả năng phục hồi DN, HTX khi lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán nợ và khả năng này là rõ nét hơn so với Luật Phá sản năm 2004.

2. Thực trạng phục hồi hoạt động kinh doanh theo Luật Phá sản

Việc triển khai thi hành Luật Phá sản năm 2014 được tính kể từ khi Luật này có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2015. Ngày 08/10/2015, Tòa án nhân dân tối cao mới ban hành Thông tư số 01/2015/TT-CA quy định về Quy chế làm việc của các Tổ Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ việc phá sản, có hiệu lực kể từ ngày 26/11/2015. Như vậy, mặc dù Luật Phá sản có hiệu lực đến nay được gần 02 năm song thực tế chỉ sau khi Thông tư số 01/2015/TT-CA có hiệu lực thì các Tòa án mới có cơ sở để tiếp nhận và tiến hành thủ tục phá sản[6]. Mặt khác, việc hướng dẫn thi hành Luật Phá sản cũng mới chỉ được Tòa án nhân dân tối cao ban hành như Nghị quyết số 03/2016/NQ-HĐTP ngày 26/8/2016 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Phá sản (Điều 8, khoản 14 Điều 9, Điều 70 và Điều 104 của Luật phá sản), có hiệu lực kể từ ngày 16/9/2016. Do đó, về mặt thực tế, chúng ta sẽ khó có khả năng đánh giá một cách đầy đủ, khách quan về những kết quả đã đạt được của Luật này.
Quá trình tổng kết 09 năm thi hành Luật Phá sản năm 2004 cho thấy, "trong tổng số 336 đơn yêu cầu tuyên bố phá sản, Tòa án đã ra 236 Quyết định  mở thủ tục phá sản và trong đó ra 83 Quyết định tuyên bố phá sản. Trong 83 Quyết định tuyên bố phá sản có 07 trường hợp Tòa án ra Quyết định tuyên bố DN, HTX bị phá sản trong trường hợp đặc biệt (Điều 87 Luật Phá sản năm 2004). Có 153 vụ việc chưa ra Quyết định tuyên bố phá sản trong đó có 49 vụ việc có lý do chưa thu hồi được các khoản nợ của DN, HTX, chưa bán được các tài sản của DN, HTX”[7]. Rõ ràng là mục tiêu hướng đến việc duy trì hoặc tổ chức lại hoạt động của DN, HTX có khả năng phục hồi hoạt động sản xuất, kinh doanh chưa được nêu ra rõ ràng trong Báo cáo tổng kết thi hành Luật Phá sản năm 2004. Báo cáo chỉ đưa ra nhận định, "có ý kiến cho rằng doanh nghiệp muốn hồi phục, ngoài ý chí chủ quan của các bên thể hiện trong phương án phục hồi hoạt động kinh doanh, cần phải có những điều kiện cần thiết về khả năng tài chính và có sự khuyến khích của Nhà nước. Một trong những sự khuyến khích của Nhà nước là quy định không tính lãi đối với các khoản nợ khi áp dụng thủ tục phục hồi nhằm giảm nhẹ gánh nặng tài chính cho doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản.
Tuy nhiên Luật đã không áp dụng quy định này ở thủ tục phục hồi mà lại áp dụng ở thủ tục thanh lý (Điều 34). Việc giảm nhẹ khó khăn tài chính cho con nợ như giảm nợ, không tính lãi… hoàn toàn phụ thuộc vào kết quả hòa giải giữa con nợ với các chủ nợ. Như vậy, không có sự hỗ trợ, khuyến khích của Luật đối với thủ tục phục hồi”[8].
Khi so sánh hai Luật Phá sản năm 2004 năm 2014, chúng ta thấy rằng, Luật Phá sản năm 2014 tuy đã có những đổi mới tạo điều kiện cho DN, HTX thực hiện thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh, song vẫn chưa thực sự tạo ra được những khuyến khích về mặt pháp luật bảo đảm cho DN có khả năng phục hồi tốt hơn như mục tiêu đã đề ra khi xây dựng Luật. Luật Phá sản năm 2014 vẫn hướng đến mục tiêu bảo vệ các chủ nợ trước khi bảo vệ con nợ theo truyền thống trước đây. Điều này chưa phù hợp với pháp luật của nhiều nước trên thế giới, như là Mỹ, pháp luật phá sản được xây dựng để bảo vệ những doanh nghiệp thua lỗ; những chủ thể kinh doanh thua lỗ được quyền mở thủ tục phá sản và được khuyến khích tiếp tục theo đuổi công việc kinh doanh sau đó.
Dễ nhận thấy vẫn có sự không thống nhất giữa quy định về các trường hợp Tòa án tuyên bố phá sản liên quan đến việc thực hiện phương án phục hồi hoạt động kinh doanh. Thực vậy, khoản 2 Điều 107 chỉ nêu duy nhất trường hợp doanh nghiệp không thực hiện được phương án phục hồi hoạt động kinh doanh trong khi khoản 2, điều 96 nêu thêm một giả thiết nữa là khi hết thời hạn thực hiện phương án phục hồi hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp vẫn mất khả năng thanh toán.
Hơn nữa, Điều 37 Luật Phá sản 2014 để ngỏ khả năng thương lượng giữa chủ nợ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản với doanh nghiệp mất khả năng thanh toán về việc rút đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản. Tuy nhiên, điều luật này không đề cập cụ thể về các biện pháp mà hai bên có thể đàm phán để khắc phục tình trạng mất khả năng thanh toán của doanh nghiệp như chuyển nợ thành phần vốn góp/cổ phần, thay đổi vị trí ưu tiên thanh toán của khoản nợ có bảo đảm hay khoản nợ không có bảo đảm, chuyển khoản nợ có bảo đảm thành khoản nợ không có bảo đảm và ngược lại, tăng hoặc giảm vốn góp...
Mặt khác, Luật Phá sản 2014 chỉ đề cập đến trường hợp doanh nghiệp chủ động chấm dứt hợp đồng đang có hiệu lực (Điều 61, 62) chứ không có quy định nào về giá trị pháp lý của điều khoản trong hợp đồng ký với doanh nghiệp cho phép phía bên kia đơn phương chấm dứt hợp đồng khi phát hiện doanh nghiệp mất khả năng thanh toán vốn được sử dụng rất phổ biến trong thực tế. Thêm vào đó, vẫn còn quá ít quy định về trách nhiệm pháp lý của người quản lý doanh nghiệp trước và trong thủ tục phá sản[9].

3. Một số đề xuất nâng cao hiệu quả phục hồi doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán nợ gắn với mục tiêu xây dựng Luật Phá sản

Một là, hoàn thiện pháp luật về phục hồi DN, HTX lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán nợ cần có những giải pháp hỗ trợ tốt hơn nữa. Cần sự vào cuộc của các thể chế kinh tế liên quan đến hoạt động DN, HTX để bảo đảm thực hiện được mục tiêu "đưa ra những cơ hội thực tiễn cho việc duy trì hoặc tổ chức lại hoạt động của DN, HTX có khả năng phục hồi hoạt động sản xuất, kinh doanh” khi xây dựng Luật Phá sản năm 2014. Các chính sách hỗ trợ có thể là về mặt tài chính (như miễn giảm thuế; Nhà nước tạo điều kiện về vốn vay ưu đãi trên cơ sở đánh giá tính khả thi của phương án phục hồi hoạt động kinh doanh); ưu đãi đầu tư, kinh doanh…
Hai là, việc triển khai thi hành Luật Phá sản còn chậm nên rất cần sự quan tâm, hướng dẫn và chỉ đạo của Tòa án nhân dân tối cao đối với toàn ngành tòa án trong thời gian tới, để bảo đảm các vụ việc phá sản được các Tòa án kịp thời tiếp nhận và có giải pháp khả thi trong phục hồi hoạt động DN, HTX. Sớm có nghị quyết chuyên đề hướng dẫn về thủ tục, quy trình phục hồi doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán trong quá trình giải quyết vụ việc phá sản.
Ba là, đẩy mạnh việc tuyên truyền, phổ biến mục đích, nội dung pháp luật về phá sản DN, HTX để nâng cao nhận thức trong các cơ quan tòa án và các tổ chức kinh doanh, đầu tư, tạo cơ chế hỗ trợ xã hội tốt hơn nữa đối với các DN, HTX lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán nợ, như cơ chế mua bán nợ, cơ chế giãn nợ trước và trong quá trình thực hiện thủ tục phá sản và phục hồi DN, HTX./.
-------------------------
[2]Xem: http://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=1642.
[3] Tờ trình số 10/TTr-TANDTC ngày 25/10/2013 của Tòa án nhân dân tối cao về dự án Luật Phá sản (sửa đổi), trang 6.
[4] Tờ trình số 10/TTr-TANDTC ngày 25/10/2013 của Tòa án nhân dân tối cao về dự án Luật Phá sản (sửa đổi), trang 6.
[5] Điều 88 Luật Phá sản năm 2014.
[6] Xem bài: Tòa án từ chối giải quyết phá sản!? của Luật sư Nguyễn Hưng Quang, nguồn:
http://tinnhanhchungkhoan.vn/phap-luat/toa-an-tu-choi-giai-quyet-pha-san-132907.html.
[7] Báo cáo số 55/BC-TANDTC ngày 23/9/2013 của Tòa án nhân dân tối cao tổng kết thi hành Luật Phá sản năm 2004, tr. 4
[8] Báo cáo số 55/BC-TANDTC ngày 23/9/2013 của Tòa án nhân dân tối cao tổng kết thi hành Luật Phá sản năm 2004, tr. 19.
[9] Xem thêm: TS Bùi Đức Giang, Thủ tục phá sản theo quy định mới, nguồn:
http://www.thesaigontimes.vn/117639/Thu-tuc-pha-san-theo-quy-dinh-moi.html.
Tài liệu tham khảo
1. Luật Phá sản năm 2004
2. Luật Phá sản năm 2014
3. Thông tư số 01/2015/TT-CA quy định về Quy chế làm việc của các Tổ Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ việc phá sản, có hiệu lực kể từ ngày 26/11/2015
4. Nghị quyết số 03/2016/NQ-HĐTP ngày 26/8/2016 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Phá sản
5. Báo cáo số 55/BC-TANDTC ngày 23/9/2013 của Tòa án nhân dân tối cao tổng kết thi hành Luật Phá sản năm 2004
Nguồn: Tạp chí nghề luật số 3/2017

Để được tư vấn và đăng ký sử dụng dịch vụ quý khách xin vui lòng liên hệ
TỔNG ĐÀI LUẬT SƯ TƯ VẤN PHÁP LUẬT TRỰC TUYẾN 24/7: 1900 6589
TỔNG ĐÀI LUẬT SƯ TƯ VẤN PHÁP LUẬT
 1900 6589
  Lưu ý: Các thông tin pháp lý đăng tải được trả lời bởi các luật sư, chuyên viên tư vấn uy tín, giàu kinh nghiệm. Tuy nhiên tất cả các thông tin, trích dẫn chỉ mang tính chất tham khảo do các văn bản pháp luật dẫn chiếu có thể đã hết hiệu lực hoặc được thay thế tại thời điểm hiện tại. Khách hàng truy cập trang không được áp dụng một cách tùy tiện mà chưa tham khảo ý kiến của luật sư.
VIỆT PHONG - TIÊN PHONG LUẬT VIỆT

Tổng đài luật sư tư vấn pháp luật
Văn phòng phía Bắc (Hà Nội)
P.1714-CT2B, tòa nhà 789, khu đô thị Ngoại Giao Đoàn, P.Xuân Đỉnh, Q.Bắc Từ Liêm


Menu dịch vụ

CHÚNG TÔI HỖ TRỢ KHÁCH HÀNG 7 ngày trong tuần với hotline
HOTLINE TƯ VẤN PHÁP LUẬT
Bản quyền thuộc về Luật Việt Phong - Mọi sự sao chép phải được sự chấp thuận của Công ty Luật Việt Phong bằng văn bản. (© Copyright 2015 - 2019), ® All Reserved.
Gọi luật sư: 19006589