Quyền bề mặt trong Bộ luật Dân sự năm 2015

Thứ Sáu, 19/01/2018 | 16:31 GMT+7 | 
Lượt xem: 2932
Lê Đăng Khoa- Thạc sỹ, Giảng viên trường Đại học Kiểm sát Hà Nội
Bên cạnh việc kế thừa có sửa đổi quy định về quyền sở hữu, Bộ luật dân sự năm 2015 đã bổ sung quy định về quyền khác đối với tài sản với nội hàm là quyền của chủ thể trực tiếp nắm giữ, chi phối tài sản thuộc quyền sở hữu của chủ thể khác. Theo đó, Bộ luật bổ sung ba quyền: quyền đối với bất động sản liền kề; quyền hưởng dụng và quyền bề mặt. Bài viết nghiên cứu các quan điểm pháp lý về quyền bề mặt, luận giải các quy định mới cơ bản của Bộ luật dân sự năm 2015 về quyền bề mặt, bao gồm khái niệm quyền bề mặt, căn cứ xác lập và thời điểm xác lập, chấm dứt quyền bề mặt và xử lý tài sản khi chấm dứt quyền bề mặt; đồng thời nêu lên một số ý nghĩa trong việc quy định quyền này trong pháp luật dân sự Việt Nam.

1. Quan điểm pháp lý về quyền bề mặt

Trong pháp luật La Mã trước đây, các Luật gia La Mã cho rằng về bản chất quan hệ tài sản do tính xác định của các quan hệ đó. Một chủ thể có thể tạo dựng một tài sản hoặc có được tài sản nào đó thông qua giao dịch mua bán để nhằm thoả mãn những nhu cầu của mình. Khi là chủ sở hữu tài sản, chủ thể này có toàn quyền tác động đối với tài sản của mình nhằm đạt được những lợi ích nhất định mà không phụ thuộc vào ý chí của bất kỳ người nào khác[2]. Trong trường hợp đó, chủ thể này là người có quyền tuyệt đối với tài sản của mình. Quan hệ giữa chủ thể và tài sản trong trường hợp này được coi là quan hệ vật quyền, mà biểu trưng của nó là quyền sở hữu của chủ thể đối với tài sản. Luật La Mã đã khẳng định rằng quyền của một người không chỉ trải rộng trên tài sản của chính mình mà còn có thể thực hiện trên tài sản của người khác. Ngược lại, có thể hiểu những quyền tuyệt đối của một người với tư cách là chủ sở hữu của tài sản có thể bị giới hạn hay hạn chế để tạo thuận lợi cho những người khác. Bốn loại khác nhau của quyền đối với tài sản của người khác (jura in re aliena) mà không bao gồm đầy đủ quyền sở hữu (của chủ sở hữu) được thể hiện trong pháp luật La Mã dưới các tên gọi sau: (1) servitus hoặc Servitude (Dịch quyền); (2) Pignus hoặc Pledge (gồm cả hypotheca) (Quyền cầm cố, thế chấp); (3) superficies (Quyền bề mặt); (4) Emphyteusis (Quyền canh tác)[3]. Như vậy, theo quy định của pháp luật La Mã, quyền bề mặt là một loại quyền đối với tài sản của người khác. 
Quyền bề mặt, một dạng của quyền trên tài sản của người khác (jus in re aliena), là một vật quyền (real right) được cấp bởi chủ sở hữu đất (chủ sử dụng đất cho người khác được quyền xây dựng trên một khu đất nào đó hoặc mở rộng bề mặt của mảnh đất có tính đến khoản tiền (lợi tức) thu về hàng năm hoặc với một mức giá xác định và chủ sở hữu đất phải tôn trọng quyền của người được cấp quyền bề mặt trong suốt quá trình sử dụng và hưởng dụng bề mặt, phải có trách nhiệm phá huỷ các công trình xây dựng hoặc chịu phiền lụy của công trình xây dựng cho đến khi người có quyền bề mặt phá hủy các công trình này. Quyền bề mặt được duy trì trong suốt thời gian được cấp quyền mà không bị ảnh hưởng bởi chủ sở hữu đất. Quyền bề mặt được cấp trong vĩnh viễn hoặc trong một thời gian dài[4]. Quyền bề mặt trong luật La Mã được coi là một loại vật quyền. Xét về bản chất quyền bề mặt thuộc nhóm vật quyền phụ được phái sinh từ quyền sở hữu của chủ sử dụng đất. Đối tượng tác động của quyền bề mặt chính là quyền sử dụng gắn với mảnh đất hoặc một bất động sản cụ thể. Người có quyền bề mặt được tác động lên tài sản (bề mặt bất động sản) của chủ sở hữu khác như là với tư cách của một chủ sở hữu nhưng không có đầy đủ quyền năng của một chủ sở hữu đối với tài sản này. Có thể hiểu, chủ sở hữu đã hạn chế bớt quyền năng của mình (hạn chế quyền sử dụng bề mặt bất động sản) để cho người khác khai thác, sử dụng tài sản của mình, hoặc được lợi từ tài sản của mình.
Liên quan đến phạm vi tác động của quyền bề mặt hiện tồn tại nhiều quan điểm khác nhau. Có quan điểm cho rằng, phạm vi tác động của quyền bề mặt chỉ bao gồm phần khoảng không gian phía trên bề mặt đất để xây dựng công trình. Những người theo quan điểm này lý giải khi chủ sử dụng đất hợp pháp cho phép một người khác sử dụng khoảng không gian được tính từ mặt đất trở lên với mục đích xây dựng các công trình để ở, để cho thuê hoặc để phục vụ nhu cầu cần thiết khác chính là việc chủ sử dụng đất đã trao quyền sử dụng bề mặt đất cho người khác. Quan điểm khác lại cho rằng, phạm vi tác động của bề mặt là quyền sử dụng bề mặt đất và phần không gian phía trên của bề mặt đất để trồng cây, canh tác, để xây dựng các công trình. Những người theo quan điểm này lý giải quyền bề mặt là quyền sử dụng bề mặt đất và phần không gian trên bề mặt đất với mục đích rộng hơn là vừa để trồng cây, canh tác vừa để xây dựng các công trình. Theo cách hiểu này, chúng ta đang nhìn nhận quyền bề mặt đã được mở rộng hơn thông qua việc mở rộng mục đích sử dụng bề mặt đất là để trồng trọt, canh tác và để xây dựng các công trình trên đất. Pháp luật Đài Loan, Thái Lan, Hà Lan và một số nước châu Âu cũng quy định tương tự về phạm vi của quyền bề mặt, bao gồm việc sử dụng đất cho cả mục đích xây dựng, trồng trọt, canh tác [5]. Tuy nhiên, có quan điểm khác nữa lại cho rằng, phạm vi tác động của quyền này baogồm khoảng không gian phía trên bề mặt đất và trong lòng đất. Đa phần các quốc gia châu Âu hiện nay theo quan điểm này, quy định một quyền sở hữu hoàn toàn đối với công trình được xây dựng phía trên hoặc phía dưới bề mặt đất (đất của chủ sở hữu khác) [6]. Theo ý kiến của tác giả bài viết, việc tiếp cận quyền bề mặt theo quan điểm này trong xã hội hiện đại là hợp lý hơn cả, bởi vì cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật ngày nay đã có thể cho phép con người khai thác toàn bộ không gian từ phía trên mảnh đất, bề mặt đất và không gian trong lòng đất. Nhìn nhận theo quan điểm này còn phù hợp đối với việc khai thác khoảng không gian phía trên của một bất động sản và khoảng không gian nằm phía dưới của một bất động sản. Đồng thời, theo quan điểm này còn tạo nhiều hơn điều kiện khai thác lợi ích từ một mảnh đất hoặc từ một bất động sản trong thời đại ngày nay khi mà khoa học kỹ thuật đã phát triển rất mạnh mẽ. Ví dụ: có trường hợp thực hiện việc trồng trọt các loại cây phía bên trên của một toà nhà hoặc tạo các đường hầm, xây dựng các công trình phía dưới toà nhà mà việc sở hữu toà nhà và sở hữu quyền khai thác bề mặt thuộc về những chủ sở hữu khác nhau. Như vậy, đối với việc nhìn nhận quyền bề mặt như thế nào thì tùy thuộc vào pháp luật mỗi quốc gia hoặc điều kiện xã hội và việc thực thi quyền này trong thực tiễn. Tóm lại, quy định phạm vi của quyền bề mặt theo quan điểm thứ ba là hợp lý hơn cả, bởi vì những lý do sau: phạm vi tác động của quyền rất rộng (từ khoảng không gian phía trên cho đến không gian trong lòng đất), phù hợp với xu hướng phát triển của xã hội, đảm bảo khai thác tốt giá trị của các bất động sản, mục đích sử dụng cũng được mở rộng, từ đó tạo điều kiện tốt cho mọi cá nhân, tổ chức thực hiện việc khai thác tài sản gắn liền với đất trong điều kiện ứng dụng khoa học công nghệ hiện đại trong thời đại ngày nay. Thực tế, hướng tiếp cận này đã được thể hiện rõ trong Bộ luật dân sự năm 2015.

2. Quy định về quyền bề mặt trong Bộ luật dân sự năm 2015

Về khái niệm quyền bề mặt: Theo quy định tại Điều 267 BLDS năm 2015 thì "Quyền bề mặt là quyền của một chủ thể đối với mặt đất, mặt nước, khoảng không gian trên mặt đất, mặt nước và lòng đất mà quyền sử dụng đất đó thuộc về chủ thể khác”. Như vậy, hướng tiếp cận của BLDS 2015 cũng tiếp cận quyền bề mặt với nội hàm rất rộng. Trong đó, khoảng không gian bên trên bề mặt đất, bề mặt đất và lòng đất đều thuộc phạm vi tác động của quyền này. Hơn nữa, mục đích thực hiện quyền đã được mở rộng, cho phép các chủ thể của quyền được thực hiện mọi hành vi mà pháp luật không cấm. Với hướng tiếp cận này sẽ phù hợp với xã hội hiện đại mà trong đó con người bằng khoa học công nghệ có thể thực hiện nhiều hoạt động liên quan đến bề mặt đất như xây công trình bên trên đất (tầu điện, đường cao tốc...), công trình ngầm trong lòng đất (tầu điện ngầm, nhà cửa, đường ống, cống...), canh tác, nuôi dưỡng, trồng trọt trên bề mặt đất....
Về căn cứ xác lập và thời điểm xác lập: Quyền bề mặt được xác lập thông qua theo thỏa thuận; theo di chúc; hoặc theo quy định của pháp luật. Trên thực tế, quyền bề mặt có thể xác lập thông qua ý chí của các bên cùng nhau thống nhất, thỏa thuận hoặc theo ý chí của một bên khi để lại di chúc. Tuy nhiên, hiện tại chưa trường hợp nào thể hiện rõ việc xác lập quyền bề mặt theo quy định của pháp luật. Việc xác lập quyền bề mặt theo quy định của pháp luật được đưa ra nhằm tạo cơ sở cho những văn bản pháp luật sẽ được ban hành liên quan đến việc xác lập quyền bề mặt theo quy định của pháp luật.
Theo quy định của BLDS 2015, quyền bề mặt có hiệu lực từ thời điểm chủ thể có quyền sử dụng đất chuyển giao mặt đất, mặt nước, khoảng không gian trên mặt đất, mặt nước và lòng đất cho chủ thể có quyền bề mặt, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật liên quan có quy định khác. Theo nguyên tắc chung, quyền bề mặt có hiệu lực đối với mọi cá nhân, pháp nhân.
Về thời hạn của quyền bề mặt: Thời hạn của quyền bề mặt được xác định theo quy định của luật, theo thỏa thuận hoặc di chúc nhưng không vượt quá thời hạn của quyền sử dụng đất. Như vậy, để căn cứ được hưởng quyền bề mặt trong thời hạn tối đa là bao nhiêu thì phải tuân theo quy định của pháp luật về đất đai. Mỗi loại đất đai do Nhà nước quản lý đều có thời hạn sử dụng không giống nhau cho nên khi thực hiện xác lập quyền bề mặt thì phải tìm hiểu về thời hạn mà Nhà nước cấp quyền sử dụng cho các chủ thể có quyền sử dụng đất. Theo quy định chung, trường hợp thỏa thuận hoặc di chúc không xác định được thời hạn của quyền bề mặt thì mỗi bên có quyền chấm dứt quyền này bất cứ lúc nào nhưng phải thông báo bằng văn bản cho bên kia biết trước ít nhất 06 tháng.
Chấm dứt quyền bề mặt và xử lý tài sản khi chấm dứt quyền bề mặt: Quyền bề mặt được chấm dứt trong các trường hợp sau đây: (1) Thời hạn hưởng quyền bề mặt đã hết; (2) Chủ thể có quyền bề mặt và chủ thể có quyền sử dụng đất là một; (3) Chủ thể có quyền bề mặt từ bỏ quyền của mình; (4) Quyền sử dụng đất có quyền bề mặt bị thu hồi theo quy định của Luật đất đai; (5) Theo thỏa thuận của các bên hoặc theo quy định của luật. 
Sau khi chấm dứt quyền bề mặt thì chủ thể có quyền bề mặt phải trả lại mặt đất, mặt nước, khoảng không gian trên mặt đất, mặt nước và lòng đất cho chủ thể có quyền sử dụng đất theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật. Đây là việc làm bắt buộc đối với chủ sở hữu quyền bề mặt để đảm bảo lợi ích cho chủ thể có quyền sử dụng đất. Chủ sở hữu quyền bề mặt phải xử lý tài sản thuộc sở hữu của mình trước khi quyền bề mặt chấm dứt, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Trường hợp chủ thể quyền bề mặt không xử lý tài sản trước khi quyền bề mặt chấm dứt thì quyền sở hữu tài sản đó thuộc về chủ thể có quyền sử dụng đất kể từ thời điểm quyền bề mặt chấm dứt, trừ trường hợp chủ thể có quyền sử dụng đất không nhận tài sản đó. Trường hợp chủ thể có quyền sử dụng đất không nhận tài sản mà phải xử lý tài sản thì chủ thể có quyền bề mặt phải thanh toán chi phí xử lý tài sản.

3. Ý nghĩa của việc quy định quyền bề mặt trong Bộ luật dân sự năm 2015

Một là, việc quy định quyền bề mặt trong BLDS năm 2015 là bước đột phá về tư duy trong pháp luật dân sự. BLDS năm 1995, năm 2005 không có quy định nào ghi nhận về quyền này. Chủ thể đối với mặt đất, mặt nước, khoảng không gian trên mặt đất mặt nước nếu muốn sử dụng đất của chủ thể khác thì phải thông qua các hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng đất như hợp đồng thuê dài hạn, hợp đồng mượn, hợp đồng chuyển nhượng...Điều này cũng dẫn đến nhiều rủi ro đối với người thuê, người mượn đất khi mà họ đã đầu tư xây dựng các công trình trên đất nhưng lại không có cơ chế pháp lý để đảm bảo cho họ quyền sở hữu đối với các tài sản trên đất. Quyền bề mặt có ý nghĩa to lớn trong việc bảo vệ quyền sở hữu đối với tài sản được hình thành trên đất của người khác. Quyền bề mặt cũng là quyền để giúp phân tách hai quyền năng: quyền sở hữu đất thuộc về chủ sử dụng đất hợp pháp và quyền sở hữu các tài sản được hình thành trên đất thì thuộc về chủ thể khác.
Hai là, quyền bề mặt tạo điều kiện tốt cho việc phát triển kinh tế. Đó là, giúp cho các chủ thể khai thác hết đầy đủ và tiết kiệm đối với đất và bất động sản. Khi áp dụng quyền bề mặt, các chủ thể có thể khai thác được đầy đủ về mặt không gian gồm phía trên đất, mặt đất và phía dưới đất. Trong nền kinh tế thị trường, mọi khía cạnh của tài sản cần được khai thác triệt để để tạo ra lợi ích cho xã hội. Trong khi chủ sử dụng đất không có nhu cầu sử dụng khoảng không của đất hoặc của bất động sản trên đất thì có thể khai thác lợi ích bằng cách cho phép chủ thể khác sử dụng khoảng không này. Việc này cũng tạo ra những lợi ích cho người sử dụng quyền bề mặt. Tức là, chủ sở hữu quyền bề mặt chỉ phải trả chi phí để được quyền sử dụng bề mặt, đáp ứng nhu cầu sử dụng của mình mà không nhất thiết phải trả toàn bộ chi phí cho việc nhận chuyển nhượng toàn bộ quyền sử dụng đất hoặc bất động sản. Điều này có ý nghĩa đặc biệt đối với các thương nhân, nhà đầu tư khi mà họ không phải đầu tư quá nhiều tiền vào việc có quyền sở hữu đất mà chỉ cần có quyền sở hữu bề mặt đất với chi phí thấp hơn và rẻ hơn. Ví dụ chủ đầu tư, thương nhân chỉ cần cần có bề mặt đất để xây nhà cao tầng cho thuê, siêu thị, văn phòng...nhưng không cần quan tâm đến quyền sở hữu mảnh đất đó.
Ba là, quyền bề mặt giúp tạo điều kiện giải quyết tốt mối quan hệ giữa 3 chủ thể: người có quyền sở hữu tài sản trên đất (nhà, căn hộ chung cư), người chủ sở hữu đất và người nhận thế chấp (ngân hàng) trong việc xử lý hậu quả của việc thế chấp. Ví dụ: trong trường hợp chủ sở hữu nhà thế chấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và sau đó tài sản này được đem đi xử lý thế chấp thì việc xử lý thế chấp này sẽ rất khó khăn khi mà quyền sử dụng đất thuộc về chủ thể khác. Như vậy, quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà là hai quyền tách biệt nhau nhưng các đối tượng của quyền là nhà và đất thì không tách rời nên sẽ gây ra nhiều khó khăn trong việc xử lý. Nếu áp dụng quy định về quyền bề mặt thì chủ sở hữu quyền sử dụng đất vẫn đảm bảo quyền của mình và trong khi đó ngân hàng vẫn dễ dàng trong việc xử lý tài sản là căn hộ hoặc nhà trên đất đó. Việc xử lý tài sản trong trường hợp này không hề ảnh hưởng đến quyền của người chủ sở hữu quyền sử dụng đất.
Bốn là, về nguyên tắc chung thì Luật đất đai, không cho phép các chủ đầu tư chuyển quyền sử dụng đất do nhà nước giao hoặc cho thuê mà chỉ cho phép các chủ đầu tư bán tài sản đã hình thành trên đất. Theo quy định tại điểm e, khoản 1 Điều 56, điểm c, khoản 1 Điều 175, Điều 189 Luật Đất đai năm 2013 cho phép chuyển nhượng tài sản trên đất khi mà tài sản gắn liền với đất thuê được tạo lập hợp pháp theo quy định của pháp luật và đã hoàn thành việc xây dựng theo đúng quy hoạch xây dựng chi tiết và dự án đầu tư đã được phê duyệt, chấp thuận. Tuy nhiên, nhiều trường hợp các chủ đầu tư không đủ vốn, nên không thể xây dựng các công trình, rồi sau đó thực hiện việc bán các công trình đó. Thay vào đó, khi được nhà nước cấp cho quyền sử dụng đất thì chủ đầu tư chuyển nhượng dự án cho người khác để kiếm lời chênh lệch. Đối tượng hướng đến trong giao dịch này đó là quyền sử dụng đất được nhà nước cho giao hoặc thuê. Thực tiễn các bên đã lựa chọn loại "hợp đồng chuyển nhượng vốn góp và quyền thực hiện dự án đầu tư” để hợp pháp hoá hoạt động của mình. Nếu quy định về quyền bề mặt được thực thi thì có thể hạn chế được những trường hợp này. Ngoài ra, chủ đầu tư không đủ vốn để thực hiện việc xây dựng các công trình trên đất, nên không thể thực hiện được việc bán các tài sản trên theo quy định pháp luật. Đây là nguyên nhân dẫn đến nhiều dự án bỏ trống, gây lãng phí thất thoát tài sản Nhà nước, trong khi nhiều nhà đầu tư có khả năng thực hiện dự án thì không được quyền thực hiện. Nếu quyền bề mặt được áp dụng sẽ giúp chấm dứt tình trạng trên. Các bên được Nhà nước giao quyền bề mặt nếu không thực hiện được thì có thể chuyển giao lại mà không nhất thiết cần phải xây dựng tài sản trên đất. Quy định về quyền bề mặt trong BLDS năm 2015 tạo hành lang pháp lý để việc sử dụng có hiệu quả tài nguyên đất đai, tránh hiện tượng bỏ trống dự án làm thất thoát tài sản của Nhà nước.
Năm là, quyền bề mặt giúp giải quyết các vấn đề liên quan đến sử dụng công trình ngầm. Nếu không có quy định về quyền bề mặt thì vướng mắc trong vấn đề sử dụng công trình ngầm có nhiều câu hỏi hiện nay còn chưa giải đáp được. Quyền sử dụng đất hiện tại được hiểu là quyền đối với thửa đất được tính từ phía khoảng không bên trên đến bề mặt đất và phía dưới bề mặt đất nhưng trong những giới hạn nhất định theo quy định của các văn bản điều chỉnh chung ở từng vùng, địa phương khác nhau. Khi Nhà nước lấy đất để xây dựng công trình ngầm dưới lòng đất (đường bộ, tàu điện…) thì việc thu hồi đất như thế nào? Quyền sử dụng lòng đất của những người bị thu hồi này có còn không hay bị mất do Nhà nước đã thu hồi? Nếu thu hồi thì việc bồi thường tính theo giá như thế nào? Nếu theo nguyên tắc bồi thường thì phải có thiệt hại xảy ra nhưng phần đất phía dưới không được sử dụng thì có coi là thiệt hại không? Nếu tính là thiệt hại thì có được coi là thiệt hại đang xảy ra từ khi mà công trình ngầm được xây dựng cho đến hết thời gian sử dụng công trình này. Nếu không có thiệt hại thì sẽ không có việc phải bồi thường. Sau khi thu hồi lòng đất, xây dựng công trình, Nhà nước có thể chuyển giao cho chủ thể khác khai thác, quản lý thì mối liên hệ giữa chủ thể này với chủ sử dụng đất thế nào? Có phụ thuộc vào nhau hay tồn tại độc lập với nhau? Những câu hỏi trên không dễ để trả lời một cách thoả mãn khi mà chưa có sự ghi nhận quyền bề mặt. Theo quan điểm của tác giả, bằng việc ghi nhận quyền bề mặt thì sẽ giải quyết được những vấn đề nêu trên. Cụ thể:
Thứ nhất, nếu Nhà nước xây dựng công trình ngầm dưới lòng đất thì Nhà nước chỉ thu hồi và sử dụng khoảng không gian dưới lòng đất, còn bề mặt đất và không gian trên bề mặt đất vẫn thuộc về chủ sở hữu đất. Điều này được luận giải thông qua việc hiểu quyền bề mặt được nhìn nhận dưới góc độ "cắt lớp khoảng không”, cho nên, việc sử dụng khoảng không gian dưới lòng đất không ảnh hưởng đến việc sử dụng bề mặt đất và không gian phía trên đất.
Thứ hai, bằng việc áp dụng quy định về quyền bề mặt, khi Nhà nước thu hồi và xây dựng công trình ngầm dưới lòng đất được hiểu là việc Nhà nước lấy đi một phần quyền bề mặt của chủ sở hữu đất. Trước đây, khi chưa có quy định về quyền bề mặt, Nhà nước thực hiện việc xây dựng công trình ngầm dưới lòng đất thì Nhà nước sẽ phải lấy toàn bộ diện tích đất đó. Dẫn đến, Nhà nước phải bỏ ra chi phí để bồi thường thiệt hại toàn bộ giá trị của diện tích đất trên, sẽ lớn hơn nhiều so với chi phí cho việc sử dụng phần không gian dưới lòng đất. Việc bồi thường có thể được tính theo giá của thị trường hoặc khung giá do Nhà nước ban hành. Theo ý kiến cá nhân, việc bồi thường nên được tính theo giá của thị trường để bảo đảm quyền lợi cho chủ sở hữu đất hợp pháp.
Thứ ba, bằng việc quy định về quyền bề mặt, chủ thể khác được Nhà nước chuyển giao khai thác, sử dụng công trình ngầm dưới lòng đất có sự độc lập với chủ sở hữu đất. Hai chủ thể này độc lập với nhau trong việc khai thác, sử dụng bề mặt đất. Việc khai thác phần phía dưới bề mặt đất và khai thác phía trên bề mặt đất của hai chủ thể trên không được làm ảnh hưởng đến nhau. Nếu trong quá trình khai thác, sử dụng mà gây thiệt hại cho nhau thì phải chịu trách nhiệm bồi thường. BLDS năm 2015 chưa có quy định cụ thể về mối liên hệ giữa các chủ thể được cấp quyền bề mặt cũng như trách nhiệm chung của các chủ thể này trong việc khai thác, sử dụng trên cùng một diện tích đất./.
-----------------------
Tài liệu tham khảo
1. Bộ luật dân sự năm 2005
2. Bộ luật dân sự năm 2015
3. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật La Mã, Nxb Công an Nhân dân, Hà Nội, 2003.
4. Lê Thị Ngọc Mai, Quyền bề mặt – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận văn thạc sỹ, Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội, 2014.
5. LLM. Christian Hertel, Real Property Law and Procedure in the European Union, General report of European University Institude, 2005.
6. Thomas Lavier (2010), The Creation of Superficies as an Acquisition Method, Canada.
7. TS. Nguyễn Ngọc Điện (2000), Nghiên cứu về tài sản trong Luật dân sự Việt Nam, Nxb Trẻ, TP. Hồ Chí Minh.
--------------------
[2] Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật La Mã, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 61.
[3] Xem R.D. Melville, A manual of the principles of Roman Law relating to persons, property, and obligations, W. Green & Son, Edinburgh Publisher, 1915, page 249: "The Roman Law recognised that the rights of a person might extend not only over his own property, but also over the property of other persons, or, stated conversely, that the absolute rights of a person as owner of his property might be limited or restricted in favour of some other person. Four different kinds of rights over the property of another person (jura in re aliena) which did not amount to full ownership were recognized by the Roman Law under respective names of (1) servitus or "servitude”; (2) pignus or pledge (including hypotheea); (3) superficies; and (4) emphyteusis”.
[4] Xem R.D. Melville, A manual of the principles of Roman Law relating to persons, property, and obligations, W. Green & Son, Edinburgh Publisher, 1915, p. 272.
[5] LLM. Christian Hertel, Real Property Law and Procedure in the European Union, General report of European University Institude, 2005, page 21.
[6] Lê Thị Ngọc Mai, Quyền bề mặt – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận văn thạc sỹ, Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội, 2014, trang 9.
Nguồn: Tạp chí nghề luật số 4/2017

Để được tư vấn và đăng ký sử dụng dịch vụ quý khách xin vui lòng liên hệ
TỔNG ĐÀI LUẬT SƯ TƯ VẤN PHÁP LUẬT TRỰC TUYẾN 24/7: 1900 6589
TỔNG ĐÀI LUẬT SƯ TƯ VẤN PHÁP LUẬT
 1900 6589
  Lưu ý: Các thông tin pháp lý đăng tải được trả lời bởi các luật sư, chuyên viên tư vấn uy tín, giàu kinh nghiệm. Tuy nhiên tất cả các thông tin, trích dẫn chỉ mang tính chất tham khảo do các văn bản pháp luật dẫn chiếu có thể đã hết hiệu lực hoặc được thay thế tại thời điểm hiện tại. Khách hàng truy cập trang không được áp dụng một cách tùy tiện mà chưa tham khảo ý kiến của luật sư.
VIỆT PHONG - TIÊN PHONG LUẬT VIỆT

Tổng đài luật sư tư vấn pháp luật
Văn phòng phía Bắc (Hà Nội)
P.1714-CT2B, tòa nhà 789, khu đô thị Ngoại Giao Đoàn, P.Xuân Đỉnh, Q.Bắc Từ Liêm


Menu dịch vụ

CHÚNG TÔI HỖ TRỢ KHÁCH HÀNG 7 ngày trong tuần với hotline
HOTLINE TƯ VẤN PHÁP LUẬT
Bản quyền thuộc về Luật Việt Phong - Mọi sự sao chép phải được sự chấp thuận của Công ty Luật Việt Phong bằng văn bản. (© Copyright 2015 - 2019), ® All Reserved.
Gọi luật sư: 19006589