Tác động của pháp luật và đạo đức đến đời sống hiện nay

Thứ Hai, 22/01/2018 | 17:13 GMT+7 | 
Lượt xem: 5700
Nguyễn Thị Mai - Thạc sỹ, Giảng viên Trường Đại học Luật Hà Nội
Dù ở thời đại nào, chế độ chính trị văn hóa xã hội ra sao thì vấn đề pháp luật và đạo đức luôn là một trong những vấn đề được xã hội quan tâm. Nó quyết định đến sự suy vong hay hưng thịnh, tạo nên bản sắc của mỗi một quốc gia. Trong xã hội hiện nay, pháp luật và đạo đức được nói đến như một "cặp bài trùng” luôn song hành tồn tại, có sự tác động qua lại, thậm chí làm biến đổi lẫn nhau. Rất khó để có thể đánh giá pháp luật và đạo đức, cái nào quan trọng hơn, cái nào quyết định cái nào. Trong phạm vi bài viết, tác giả tập trung nhấn mạnh vai trò cũng như sự ảnh hưởng của pháp luật và đạo đức đến đời sống trong giai đoạn hiện nay và sự tác động trở lại của đời sống đến pháp luật, đạo đức.

1. Tính lịch sử của pháp luật và đạo đức

Pháp luật và đạo đức không phải là vấn đề mới nhưng hiện nay đang là vấn đề gây "nhức nhối” đối với toàn xã hội. Hàng ngày, hàng giờ chúng ta nghe đài báo, vô tuyến nói đến tình trạng đáng buồn của xã hội: từ thực phẩm bẩn, xâm hại tình dục trẻ em, đến vấn đề tham nhũng, vi phạm bản quyền, cạnh tranh không lành mạnh… Trong bối cảnh nước ta đang hướng tới xã hội pháp quyền, mở cửa nền kinh tế, có sự hội nhập sâu rộng với các quốc gia khu vực và thế giới thì vấn đề pháp luật và đạo đức càng được coi trọng và đề cao. Dưới góc nhìn của triết học, con người là tổng hòa của các mối quan hệ xã hội mà điển hình là mối quan hệ đạo đức, quan hệ pháp luật. Có thể nói, pháp luật và đạo đức là hai yếu tố làm nảy sinh hầu hết các mối quan hệ giữa con người với con người, hiện hữu trong hành vi của con người và tác động, chi phối đến đời sống con người. Nếu việc quản lý xã hội có sự kết hợp hài hòa giữa pháp luật và đạo đức thì xã hội đó tất thuận, đất nước tất thịnh hưng.
Đạo đức được hiểu là một chuẩn mực, là thước đo để đánh giá con người, thể hiện tính lương tri, lương năng và bản ngã. Đạo đức có được là nhờ quá trình tu dưỡng, rèn luyện, được đánh giá bởi các quy tắc đạo đức xã hội và dư luận xã hội. Pháp luật là sự thể hiện ý chí của giai cấp cầm quyền thông qua việc ban hành các quy phạm pháp luật hay thừa nhận các quy tắc ứng xử trong cuộc sống và nâng lên thành luật. Pháp luật là công cụ hữu hiệu để quản lý và điều chỉnh các quan hệ trong đời sống xã hội. Thực tế đã chứng minh, pháp luật của những nhà nước gắn với giai cấp tiên tiến của thời đại thì thường tiến bộ, bảo vệ lợi ích chính đáng của con người, còn nếu gắn với giai cấp đang suy tàn thì thường chứa đựng yếu tố lạc hậu, trì trệ, bảo thủ, đi ngược lại tiến trình phát triển của nhân loại [2].
Văn hóa làng xã, "phép vua thua lệ làng” trong lối tư duy cũ đã được thay bằng tinh thần thượng tôn pháp luật như một tất yếu của tiến trình lịch sử nhân loại. Công cuộc kiến quốc, hội nhập kinh tế quốc tế được cụ thể hóa bằng việc xã hội hóa tri thức, nâng cao trình độ dân trí, triệt tiêu thói quen điều chỉnh các mối quan hệ xã hội bằng "lệ”, tạo thói quen tuân thủ pháp luật cho người dân. Từ năm 2013, ngày 9/11 hàng năm được lấy làm Ngày Pháp luật, đó chính là ngày Hiến pháp đầu tiên của Nhà nước ta được thông qua (ngày 9/11/1946). Hưởng ứng Ngày Pháp luật, các cơ quan, tổ chức, đoàn thể trên khắp cả nước đều có những hoạt động thiết thực, hữu ích như phổ biến pháp luật đến đông đảo người dân, tuyên truyền về vai trò của pháp luật trong đời sống xã hội. Điều 16 Hiến pháp năm 2013 quy định "Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật. Không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội”. Quy định này đồng nghĩa với việc mọi quan hệ trong xã hội đều được pháp luật điều chỉnh, cá nhân bình đẳng với cá nhân, mọi người đều được sống, làm việc và phát huy giá trị bản thân trong một xã hội có trật tự, công bằng, dân chủ, văn minh.
Trong bối cảnh đất nước hiện nay, việc tăng cường vai trò của pháp luật, tạo điều kiện thuận lợi cho việc hình thành, nuôi dưỡng ý thức đạo đức là vô cùng cấp thiết. Sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường đã làm thay đổi cục diện đất nước, khẳng định vị thế trên trường quốc tế nhưng những hệ lụy nó mang lại cũng không hề nhỏ. Để đạt được mục tiêu lợi nhuận, không ít doanh nghiệp, cá nhân sẵn sàng vi phạm pháp luật, gạt bỏ giá trị đạo đức để thực hiện hành vi gian lận. Tư tưởng trục lợi, chạy theo đồng tiền đã làm xói mòn, lu mờ nhiều giá trị đạo đức. Pháp luật và đạo đức đang đứng trước những thách thức to lớn của quá trình hội nhập[3]. Có thể thấy, quan hệ xã hội càng đa dạng, phong phú càng cần đến sự điều chỉnh của pháp luật, thực tế, hầu như trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội đều có pháp luật trực tiếp điều chỉnh như hình sự, dân sự, hành chính, kinh tế, đất đai, y tế, giáo dục, giao thông… Pháp luật có nguồn gốc từ nhu cầu của đời sống cần có công cụ để điều chỉnh và pháp luật phục vụ ngược trở lại những nhu cầu đó. Pháp luật là phương tiện không thể thiếu được cho sự tồn tại bình thường của xã hội nói chung và nền đạo đức nói riêng, "pháp luật bao giờ cũng là một trong những biện pháp để khẳng định một chuẩn mực đạo đức và biến nó thành thói quen. Chuẩn mực càng khó khẳng định bao nhiêu thì vai trò của pháp luật càng quan trọng bấy nhiêu. Vì vậy, không thể buông lỏng pháp luật nếu việc này chưa được chuẩn bị bằng sự tiến bộ đạo đức của xã hội”[4].

2. Sự tác động của pháp luật, đạo đức và đời sống xã hội

Sự tác động của đạo đức đến pháp luật. Trước tiên pháp luật được hình thành trên cơ sở ý chí của con người và phải dựa trên nền tảng đạo đức nhất định. Nếu công tác lập pháp chú trọng đến yếu tố đạo đức sẽ thể hiện được nhu cầu, nguyện vọng của các thành viên trong xã hội, sẽ được mọi người tự giác chấp hành, việc tuân thủ pháp luật dần trở thành một thói quen và tạo được văn hóa pháp luật. Ngoài ra, việc tuân thủ pháp luật được đến đâu là phụ thuộc vào ý thức đạo đức của mỗi người. Nếu cá nhân đó có ý thức đạo đức tốt thì thường có thái độ nghiêm chỉnh thực hiện pháp luật còn ý thức không tốt sẽ dẫn đến coi thường pháp luật, vi phạm pháp luật.
Sự tác động của pháp luật đến đạo đức: pháp luật ghi nhận những quy phạm đạo đức chuẩn mực, góp phần gìn giữ và phát huy những giá trị đạo đức tốt đẹp của dân tộc. Đồng thời pháp luật cũng loại bỏ những tư tưởng đạo đức cổ hủ, lỗi thời, đi ngược lại với sự phát triển và tiến bộ xã hội. Điều này thể hiện ở các quy định nghiêm cấm tuyên truyền những tư tưởng đạo đức lạc hậu, buộc thực hiện những hành vi thể hiện những tư tưởng đạo đức tiến bộ[5].
Sự tác động của pháp luật và đạo đức đến đời sống xã hội: pháp luật và đạo đức đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc điều chỉnh các mối quan hệ trong đời sống xã hội. Nhờ có pháp luật mà quyền tự do, bình đẳng của công dân được đảm bảo; tinh thần thượng tôn pháp luật đã định hướng hành vi con người đi theo chuẩn mực pháp lý, hài hòa lợi ích cá nhân với lợi ích cộng đồng. Đồng thời nhờ có đạo đức, truyền thống tốt đẹp của dân tộc mà trong tiến trình hội nhập, chúng ta chỉ hòa nhập chứ không hòa tan. Có thể thấy, sự đổi mới về tư duy lập pháp, kĩ thuật lập pháp cùng với đạo đức, thuần phong mĩ tục đã tạo được hành lang pháp lý và "ngưỡng” an toàn cho sự biến đổi không ngừng của đời sống xã hội.
Sự tác động của đời sống xã hội hiện nay đến pháp luật và đạo đức: sự phát triển của nền kinh tế thị trường, tiến trình hội nhập đã tạo ra nhiều cơ hội nhưng cũng không ít thách thức đối với Việt Nam. Trong đó, yếu tố pháp luật và đạo đức chịu những tác động mạnh mẽ của các yếu tố chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội… Xét về phương diện tích cực, kinh tế thị trường và hội nhập đã tạo ra sân chơi mới cho nhiều doanh nghiệp, doanh nhân, phát huy được tính sáng tạo, tích cực của mỗi cá nhân. Ở đó cá nhân được trân trọng, họ có điều kiện, động lực để tạo lập nhiều hơn nữa những giá trị tốt đẹp cho cộng đồng, cũng chính là sự tôi luyện, bồi dưỡng đạo đức, làm giàu thêm nhân cách. Tuy nhiên, vòng xoáy kinh tế thị trường cũng khiến một bộ phận không nhỏ vì quá chạy theo đồng tiền, chạy theo lợi ích trước mắt mà đánh mất cái tôi bản ngã, chà đạp lên truyền thống đạo đức. Con người đang giết hại lẫn nhau và cũng tự giết chính mình, vì lợi nhuận mà những cánh đồng rau được "tắm” trong thuốc bảo vệ thực vật, thực phẩm ngâm tẩm hóa chất độc hại, sử dụng nguyên liệu bẩn nhưng do biết "phù phép” nên vẫn len lỏi được vào trong bữa cơm của không ít gia đình. Như vậy đạo đức xã hội, tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái được đặt ở vị trí nào? Không những thế, đứng trước hành vi vi phạm pháp luật, vi phạm đạo đức, bản thân mỗi người chưa thực sự phê và tự phê, chưa dám đấu tranh mạnh mẽ với cái xấu, cái ác do tâm lý cả nể, ngại va chạm dẫn đến thái độ thờ ơ, bàn quan, vô trách nhiệm.

3. Định hướng cho pháp luật và đạo đức trong thời đại ngày nay

Việt Nam vốn xuất phát điểm từ một nước nông nghiệp lạc hậu kém phát triển, trải qua nhiều thăng trầm của lịch sử đã vươn lên đến vị thế của một quốc gia đang phát triển, có sự hội nhập kinh tế quốc tế mạnh mẽ và sâu rộng. Trong tương lai, chúng ta sẽ còn phát triển hơn nữa, có sự kết nối rộng hơn, vươn dài tầm với tới nhiều quốc gia trên khắp các châu lục. Vấn đề đặt ra không chỉ là cải cách tư pháp để tạo hành lang pháp lý an toàn cho tiến trình hội nhập hay đơn thuần là tuyên truyền, giáo dục đạo đức đến đông đảo cộng đồng. Chúng ta vừa phải tạo được sân chơi hấp dẫn cho các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài để tạo cơ hội giao lưu, phát triển về kinh tế, chính là việc xây dựng được một hệ thống quy phạm pháp luật nhằm bảo đảm quyền bình đẳng, lợi ích chính đáng cho các thành viên trong sân chơi ấy, lấy phát triển bền vững làm mục tiêu, quốc sách hàng đầu. Bên cạnh đó, để hệ thống pháp luật thực sự phát huy sức mạnh thiết lập trật tự xã hội và duy trì trật tự đó, chúng ta phải quan tâm nhiều hơn nữa đến công tác bồi dưỡng rèn luyện đạo đức. Việc này phải được tiến hành thường xuyên, liên tục, không phân biệt giới tính, công việc hay độ tuổi. Giáo dục đạo đức, bồi dưỡng nhân cách con người cần được triển khai đồng bộ ở tất cả các địa phương, trong đó đặc biệt chú trọng đến đối tượng học sinh từ những cấp học nhỏ nhất. Có như vậy mới tạo được nền tảng đạo đức vững chắc, hình thành ý thức tôn trọng và tuân thủ pháp luật ngay từ khi còn nhỏ, đây chính là tiền đề để hình thành những con người có nhân cách đạo đức tốt, có năng lực tự thân, biết phát huy không ngừng những giá trị sống tốt đẹp.
Dù ở bất kì thời đại nào, pháp luật và đạo đức luôn tồn tại song hành và cũng có những bước thăng trầm nhất định. Nếu đặt vấn đề đạo đức và pháp luật trong mối quan hệ tương sinh tương hỗ sẽ thấy được một điều tất yếu: nếu pháp luật được đề cao, coi trọng thì ắt đạo đức xã hội cũng được duy trì, bảo vệ; nếu có nền tảng đạo đức thì pháp luật ắt được thực thi một cách nghiêm minh. Do đó, cái cốt lõi tạo ra động lực phát triển đồng thời là triết lý phát triển không phải ở một bên đạo đức hay pháp luật mà chính là ở mối quan hệ biện chứng giữa đạo đức và pháp luật[6]. Nếu biết khai thác và kết hợp sức mạnh của đạo đức và pháp luật thì sẽ tạo được kỉ cương phép nước, hài hòa được lợi ích cá nhân với lợi ích quốc gia, dân tộc, có như vậy nước mới thịnh, lòng người mới tôn.
Trong chế độ cũ, thói quen sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, tâm lý tiểu nông dẫn đến tư tưởng "phép vua thua lệ làng”, pháp luật chỉ có vai trò rất nhỏ trong đời sống xã hội và thường nặng về cấm đoán, áp đặt, chỉ phục vụ lợi ích của thế lực đứng đầu. Khi nói đến pháp luật, người dân thường có tư tưởng chống đối, cho rằng pháp luật sinh ra là để phục vụ mục đích cai trị, thậm chí tư tưởng này còn tồn tại đến tận ngày nay, thể hiện ở việc nếu chủ thể bảo vệ, thực thi pháp luật không trực tiếp có mặt thì mọi người sẵn sàng vi phạm pháp luật, điển hình như tình trạng vi phạm quy định luật giao thông. Trong thời đại ngày nay, pháp luật đã có sự điều chỉnh, tác động đến mọi quan hệ của đời sống xã hội, ghi nhận quyền tự do, bình đẳng của con người. Thế nhưng tự do của chủ thể này không được xâm phạm đến tự do của chủ thể khác, vấn đề thực thi dân chủ cũng cần đề cao giá trị của đạo đức xã hội, tránh những hành vi cực đoan, "vô sư vô sách”.
Cả pháp luật và đạo đức đều có vai trò tạo lập những giá trị sống tốt đẹp cho quốc gia, việc tuân thủ pháp luật, làm tròn chữ đạo là tiệm cận với "chân – thiện – mĩ – ích”. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy "dễ trăm lần không cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong”, phát huy lời dạy ấy, chế độ xã hội chủ nghĩa đã thực sự phát huy tính dân chủ, đảm bảo mọi quốc sách, đường lối hoạt động, mọi tôn chỉ mục tiêu đều "do nhân dân, vì nhân dân”. Như vậy, mặc dù pháp luật được Nhà nước sử dụng để duy trì trật tự xã hội nhưng không có nghĩa là để trừng phạt, cai trị mà vì lợi ích chính đáng của người dân, điều chỉnh hành vi của họ ngăn chặn, tránh xa cái xấu, cái ác, cái lạc hậu lỗi thời, khuyến khích, phát huy cái thiện, đề cao giá trị nhân văn. Tuân thủ pháp luật cũng chính là duy trì, phát huy các giá trị đạo đức, là bồi dưỡng năng lực và phẩm hạnh cho mỗi cá nhân trong thời đại mới.
Để phát huy được tối đa sức mạnh của pháp luật và đạo đức, vì tiến bộ xã hội, đòi hỏi sự đồng tâm, đồng sức của mọi địa phương, ban ngành đoàn thể và phải có quyết sách, biện pháp phù hợp.
Thứ nhất, cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật để người dân nhận thức được một cách đầy đủ và sâu sắc hơn nữa vai trò của pháp luật trong việc thiết lập, duy trì trật tự xã hội, đồng thời cũng góp phần củng cố, nâng cao ý thức đạo đức.
Thứ hai, công tác lập pháp cũng cần được chú trọng, vừa phải đảm bảo tính tiên liệu nhưng vẫn phù hợp với thực tế đời sống xã hội. Với những quy phạm pháp luật đã cũ, lỗi thời, không còn tác dụng điều chỉnh cần được bãi bỏ, thay đổi hoặc sửa đổi, đảm bảo tính đồng bộ, nhất quán giữa pháp luật và đời sống. Việc tăng cường sự điều chỉnh xã hội bằng pháp luật chính là nhân tố cốt lõi thúc đẩy sự hình thành và bồi dưỡng của nhân cách đạo đức.
Thứ ba, nâng cao chất lượng công tác áp dụng pháp luật bằng cách ban hành các văn bản hướng dẫn những nội dung mà luật quy định chưa rõ hoặc còn bỏ ngỏ để có cách hiểu và áp dụng thống nhất; nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ thực thi pháp luật bởi pháp luật dù đúng đắn đến mấy nhưng người triển khai áp dụng không có tâm, không có đức thì cũng bằng vô nghĩa. Thực tế đã xảy ra nhiều trường hợp cán bộ lợi dụng trách nhiệm, quyền hạn của mình để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, trục lợi cho bản thân, xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của con người, thậm chí có những trường hợp dẫn đến oan sai trong tố tụng hình sự, bỏ lọt tội phạm. Do đó, đảm bảo hiệu quả công tác áp dụng pháp luật nói chung, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ có cả tài, cả đức nói riêng là nhu cầu cấp thiết của thực tế hiện nay.
Thứ tư, việc giáo dục đạo đức phải gắn liền với giáo dục pháp luật, đạo đức không được tách rời pháp luật mà phải luôn có sự tương hỗ. Giáo dục đạo đức gắn liền với giáo dục trong nhà trường để tạo nền tảng cho giáo dục bền vững.
Tóm lại, xã hội có phát triển, đời sống nhân dân có được nâng cao hay không phụ thuộc vào chính sách pháp luật và ý thức đạo đức, ý thức tuân thủ pháp luật của mỗi người. Do đó, cần phải không ngừng đổi mới và có sự hoạch định chính sách phù hợp với sự phát triển của đời sống xã hội, có như vậy mới đảm bảo xã hội công bằng, dân chủ và văn minh, thúc đẩy xã hội phát triển phù hợp với tiến trình chung của toàn nhân loại./.
--------------------------
[2] Lê Thị Tuyết Ba, Vai trò của pháp luật đối với việc hình thành và phát triển ý thức đạo đức ở nước ta hiện nay, Tạp chí Triết học, số 10 (185)/2006.
[3] Hoàng Thị Kim Quế, Những vấn đề hôm nay của pháp luật và đạo đức, Tạp chí Luật học, số 7/2006, tr. 42.
[4] G.Bandzeladze, Đạo đức học, Tập 1, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 1985, tr.177.
[5] Nguyễn Văn Năm, Nhận thức về mối quan hệ giữa pháp luật với đạo đức, Tạp chí Luật học, số 4/2006, tr. 39.
[6] Vũ Khiêu, Thành Duy, Đạo đức và pháp luật trong triết lý phát triển ở Việt Nam, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2000
Tài liệu tham khảo
1. Lê Thị Tuyết Ba, Vai trò của pháp luật đối với việc hình thành và phát triển ý thức đạo đức ở nước ta hiện nay, Tạp chí Triết học, số 10 (185)/2006.
2. Hoàng Thị Kim Quế, Những vấn đề hôm nay của pháp luật và đạo đức, Tạp chí Luật học, số 7/2006, tr. 42.
3. G.Bandzeladze, Đạo đức học, Tập 1, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 1985, tr.177.
4. Nguyễn Văn Năm, Nhận thức về mối quan hệ giữa pháp luật với đạo đức, Tạp chí Luật học, số 4/2006, tr. 39.
5. Vũ Khiêu, Thành Duy, Đạo đức và pháp luật trong triết lý phát triển ở Việt Nam, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2000.
Nguồn: Tạp chí nghề luật số 3/2017

Để được tư vấn và đăng ký sử dụng dịch vụ quý khách xin vui lòng liên hệ
TỔNG ĐÀI LUẬT SƯ TƯ VẤN PHÁP LUẬT TRỰC TUYẾN 24/7: 1900 6589
TỔNG ĐÀI LUẬT SƯ TƯ VẤN PHÁP LUẬT
 1900 6589
  Lưu ý: Các thông tin pháp lý đăng tải được trả lời bởi các luật sư, chuyên viên tư vấn uy tín, giàu kinh nghiệm. Tuy nhiên tất cả các thông tin, trích dẫn chỉ mang tính chất tham khảo do các văn bản pháp luật dẫn chiếu có thể đã hết hiệu lực hoặc được thay thế tại thời điểm hiện tại. Khách hàng truy cập trang không được áp dụng một cách tùy tiện mà chưa tham khảo ý kiến của luật sư.
VIỆT PHONG - TIÊN PHONG LUẬT VIỆT

Tổng đài luật sư tư vấn pháp luật
Văn phòng phía Bắc (Hà Nội)
P.1714-CT2B, tòa nhà 789, khu đô thị Ngoại Giao Đoàn, P.Xuân Đỉnh, Q.Bắc Từ Liêm


Menu dịch vụ

CHÚNG TÔI HỖ TRỢ KHÁCH HÀNG 7 ngày trong tuần với hotline
HOTLINE TƯ VẤN PHÁP LUẬT
Bản quyền thuộc về Luật Việt Phong - Mọi sự sao chép phải được sự chấp thuận của Công ty Luật Việt Phong bằng văn bản. (© Copyright 2015 - 2019), ® All Reserved.
Gọi luật sư: 19006589