Tổ chức toà án tại đặc khu hành chính - kinh tế đặc biệt

Thứ Sáu, 19/01/2018 | 16:48 GMT+7 | 
Lượt xem: 2098
TS. Lê Thu Hà – Văn phòng Ban Chỉ đạo cải cách tư pháp Trung ương
Xây dựng đặc khu hành chính – kinh tế đặc biệt là một chủ trương của Đảng về Chiến lược và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội , nhằm phát triển mô hình mới với cơ chế, chính sách có tính đột phá để cải thiện môi trường đầu tư, nâng cao sức cạnh tranh thu hút đầu tư, đặc biệt là đầu tư nước ngoài và động lực mới đẩy nhanh quá trình phát triển kinh tế. Thực hiện chủ trương này, dự án Luật đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt đang được khẩn trương xây dựng, dự kiến trình Quốc hội vào kỳ họp cuối năm 2017.
1. Trong lịch sử tổ chức các cơ quan nhà nước và hệ thống Tòa án của Việt Nam, đã từng có những khu hành chính đặc biệt, đó là các khu tự trị và đặc khu được tổ chức theo quy định của Hiến pháp năm 1959. Các đơn vị hành chính được phân định theo Điều 78 Hiến pháp năm 1959, cụ thể: Nước chia thành tỉnh, khu tự trị, thành phố trực thuộc trung ương; Tỉnh chia thành huyện, thành phố, thị xã; Huyện chia thành xã, thị trấn. Các đơn vị hành chính trong khu vực tự trị do luật định (). Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính ở các khu tự trị phải căn cứ vào những nguyên tắc cơ bản về tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính các cấp quy định (Điều 92). Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính các khu tự trị chiếu theo phạm vi quyền hạn tự trị do pháp luật quy định mà đặt kế hoạch phát triển kinh tế và văn hóa thích hợp với tình hình địa phương, quản lý tài chính, tổ chức các lực lượng dân quân tự vệ và công an của địa phương (Điều 94). Trong phạm vi quyền hạn tự trị, Hội đồng nhân dân các khu tự trị có thể chiếu theo những đặc điểm chính trị, kinh tế, văn hóa của các dân tộc ở địa phương mà đặt ra điều lệ tự trị và những điều lệ về những vấn đề riêng biệt để thi hành ở địa phương sau khi đã được Ủy ban thường vụ Quốc hội phê chuẩn (Điều 95).
Trên cơ sở các quy định này, ngày 27/10/1962, Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hòa khóa II họp kỳ thứ 5 đã ban hành Nghị quyết phê chuẩn việc đổi tên khu tự trị Thái – Mèo (giai đoạn 1957-1962) thành khu tự trị Tây Bắc (giai đoạn 1962-1975) và thành lập các tỉnh trong khu gồm Lai Châu, Sơn La, Nghĩa Lộ. Để tổ chức của Tòa án nhân dân các cấp trong khu tự trị Tây Bắc phù hợp với đặc điểm của tình hình địa phương, Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành Quyết định số 185-NQ-TVQH ngày 09/7/1963 phê chuẩn Điều lệ của Hội đồng nhân dân khu tự trị Tây Bắc quy định cụ thể về tổ chức của Tòa án nhân dân các cấp trong khu tự trị Tây Bắc. Điều 1 bản Điều lệ quy định các Tòa án nhân dân trong khu tự trị Tây Bắc gồm Tòa án nhân dân khu, các Tòa án nhân dân tỉnh, các Tòa án nhân dân thị xã và huyện. Bản Điều lệ cũng quy định cụ thể thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân khu, Tòa án nhân dân tỉnh, Tòa án nhân dân cấp huyện; tổ chức của các Tòa án nhân dân, nhiệm kỳ của thẩm phán; chế độ và nhiệm kỳ Hội thẩm; các nguyên tắc xét xử mang tính đặc thù của khu tự trị. Bản Điều lệ cũng nhấn mạnh "Tòa án nhân dân các cấp trong khu tự trị Tây Bắc phải chấp hành những nguyên tắc chung về tổ chức Tòa án nhân dân đã được quy định trong Hiến pháp, Luật ngày 14-7-1960[1] và Pháp lệnh ngày 23-3-1961[2], và những quy định của bản điều lệ này” (Điều 14 bản Điều lệ).
Ngoài khu tự trị Tây Bắc, còn khu tự trị Việt Bắc, được thành lập theo Sắc lệnh số 268-SL ngày 1-7-1956 của Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Khu tự trị Việt Bắc gồm các tỉnh: Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Thái Nguyên. Khu tự trị Việt Bắc giải thể năm 1975 cùng với Khu tự trị Tây Bắc.
Ngày 30-5-1979, đặc khu Vũng Tàu - Côn Đảo được thành lập theo Nghị quyết của Quốc hội với mục tiêu chính là phát triển công tác tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí. Đặc khu Vũng Tàu – Côn Đảo gồm có thị xã Vũng Tàu. xã Long Sơn thuộc huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Nai và huyện Côn Đảo thuộc tỉnh Hậu Giang. Đặc khu Vũng Tàu – Côn Đảo trực thuộc Trung ương và tương đương với cấp tỉnh[3]. Các tòa án nhân dân ở đặc khu gồm có Tòa án nhân dân đặc khu Vũng Tàu – Côn Đảo (tương đương cấp tỉnh) và các Tòa án cấp huyện. Hoạt động của các Tòa án này thực hiện theo quy định chung của Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 1960, Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 1981, phù hợp với đơn vị hành chính được tổ chức trong đặc khu..
2. Về cơ bản, các Tòa án nhân dân tại khu tự trị và đặc khu được tổ chức tương tự như cách tổ chức các Tòa án nhân dân tương ứng ở khu vực hành chính bình thường, phù hợp với Hiến phápLuật tổ chức Tòa án nhân dân. Bên cạnh đó, các Tòa án nhân dân tại khu tự trị và đặc khu có một số quy định mang tính đặc thù, ví dụ quy định danh sách hội thẩm nhân dân của các Tòa án nhân dân trong khu cần phản ánh thích đáng các thành phần dân tộc trong quản hạt của Tòa án (Điều 10 bản điều lệ quy định cụ thể về tổ chức của Tòa án nhân dân các cấp trong khu tự trị Tây Bắc).
Từ kinh nghiệm tổ chức các Tòa án nhân dân tại khu tự trị và đặc khu, cùng với yêu cầu phát triển kinh tế, xã hộivà hội nhập quốc tế trong thời điểm hiện tại, có tính đến yếu tố khả thi, việc tổ chức Tòa án nhân dân và các cơ quan liên quan đến hoạt động tư pháp tại khu hành chính – kinh tế đặc biệt có thể theo mô hình sau đây:

2.1. Về nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Tòa án đặc khu hành chính – kinh tế đặc biệt

Việc tổ chức Tòa án tương thích với khu hành chính – kinh tế đặc biệt là cần thiết, nhưng cần: (1) Phù hợp với quy định của Hiến pháppháp luật về tổ chức Tòa án nhân dân; (2) Phù hợp với những đặc thù trong khu hành chính – kinh tế.
Theo khoản 2 Điều 102 Hiến pháp năm 2013 quy định Tòa án nhân dân gồm Tòa án nhân dân tối cao và các Tòa án khác do luật định. Điều 3 Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 quy định tổ chức Tòa án nhân dân gồm có Tòa án nhân dân tối cao; Tòa án nhân dân cấp cao; Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã và tương đương; Tòa án quân sự.

2.2. Về cấp Tòa án tổ chức tại đặc khu hành chính – kinh tế đặc biệt

Theo Điều 4 Dự thảo Luật đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt, cấp đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt gồm: đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt Vân Đồn, trực thuộc tỉnh Quảng Ninh; đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt Bắc Vân Phong, trực thuộc tỉnh Khánh Hòa; đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt Phú Quốc, trực thuộc tỉnh Kiên Giang. Như vậy, mỗi đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt là một đơn vị trực thuộc tỉnh. Theo quy định của Điều 3 Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 thì Tòa án tổ chức trong đơn vị này là Tòa án nhân dân tương đương với cấp huyện với chức năng xét xử sơ thẩm các vụ việc và giải quyết các việc khác theo quy định của pháp luật (Điều 44 Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014).
Về phương án thành lập Tòa án nhân dân cấp phúc thẩm tại đặc khu kinh tế cũng có thể được cân nhắc nhưng nên tính ở giai đoạn tiếp theo. Trước mắt, để tránh xáo trộn và những thay đổi lớn phải sửa nhiều luật liên quan, bảo đảm tính khả thi, chỉ nên thành lập Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm tại đặc khu kinh tế. Điều quan trọng nhất mang tính quyết định không phải là có một cấp hay hai cấp Tòa án mà là phải đào tạo được đội ngũ thẩm phán đáp ứng yêu cầu của tình hình phát triển tại đặc khu kinh tế.

2.3. Về tên gọi

Các Tòa án trong đặc khu hành chính – kinh tế đặc biệt được bắt đầu tên "Tòa án nhân dân”, gắn với tên đầy đủ hoặc tên rút gọn của từng đặc khu.
Trường hợp gọi đầy đủ, sẽ là: Tòa án nhân dân đặc khu hành chính – kinh tế đặc biệt Vân Đồn, Tòa án nhân dân đặc khu hành chính – kinh tế đặc biệt Bắc Vân Phong, Tòa án nhân dân đặc khu hành chính – kinh tế đặc biệt Phú Quốc.
Nếu đặt tên gọi rút gọn, sẽ là: Tòa án nhân dân đặc khu Vân Đồn, Tòa án nhân dân đặc khu Bắc Vân Phong, Tòa án nhân dân đặc khu Phú Quốc.

2.4. Về cơ cấu, tổ chức Tòa án nhân dân đặc khu

Các Tòa án nhân dân đặc khu có cơ cấu, tổ chức như một tòa án nhân dân cấp huyện quy định tại Điều 45, điều 46, Điều 47, Điều 48 Luật tổ chức Tòa án nhân dân. Điểm khác là, tại Tòa án nhân dân đặc khu phải chú trọng thẩm phán kinh tế, thẩm phán hành chính, lao động. Thậm chí, Tòa án nhân dân đặc khu có thể không cần thiết thành lập Tòa hình sự, Tòa dân sự, nhưng khi số lượng án kinh tế, án hành chính, án lao động liên quan đến các nhà đầu tư tại đặc khu gia tăng thì phải thành lập các tòa chuyên trách về kinh tế, hành chính, lao động tương ứng. Trước mắt, ở giai đoạn đầu thành lập, Tòa án nhân dân đặc khu nên có thẩm phán chuyên về kinh tế, hành chính, lao động để đáp ứng kịp thời, nhanh chóng về thời gian và nhất là có chất lượng việc giải quyết những vụ việc về kinh tế, hành chính, lao động phát sinh tại đặc khu, phục vụ việc phát triển kinh tế tại đặc khu.

2.5. Về thủ tục tố tụng

Khi xét xử sơ thẩm vụ việc và giải quyết các việc khác theo quy định của pháp luật, Tòa án nhân dân đặc khu phải thực hiện theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính.
Điểm đặc thù đối với việc giải quyết các vụ việc dân sự (bao gồm cả các vụ việc về kinh tế, lao động) và hành chính tại đặc khu là cần giúp các nhà đầu tư rút ngắn được thời gian, thủ tục, trình tự giải quyết, nên nghiên cứu áp dụng một cách triệt để thủ tục xét xử rút gọn. Theo quy định tại Điều 317 Bộ luật tố tụng dân sự, những vụ án được xử theo thủ tục rút gọn phải có đủ các điều kiện sau đây: (a) Vụ án có tình tiết đơn giản, quan hệ pháp luật rõ ràng, đương sự đã thừa nhận nghĩa vụ; tài liệu, chứng cứ đầy đủ, bảo đảm đủ căn cứ để giải quyết vụ án và Tòa án không phải thu thập tài liệu, chứng cứ; (b) Các đương sự đều có địa chỉ nơi cư trú, trụ sở rõ ràng; (c) Không có đương sự cư trú ở nước ngoài, tài sản tranh chấp ở nước ngoài, trừ trường hợp đương sự ở nước ngoài và đương sự ở Việt Nam có thỏa thuận đề nghị Tòa án giải quyết theo thủ tục rút gọn hoặc các đương sự đã xuất trình được chứng cứ về quyền sở hữu hợp pháp tài sản và có thỏa thuận thống nhất về việc xử lý tài sản. Đối với vụ án lao động đã được thụ lý, giải quyết theo thủ tục rút gọn mà người sử dụng lao động có quốc tịch nước ngoài hoặc người đại diện theo pháp luật của họ đã rời khỏi địa chỉ nơi cư trú, nơi có trụ sở mà không thông báo cho đương sự khác,Tòa án thì bị coi là trường hợp cố tình giấu địa chỉ. Tòa án vẫn giải quyết vụ án đó theo thủ tục rút gọn.
Đối với những vụ án dân sự, hành chính không đủ điều kiện xét xử theo thủ tục rút gọn như quy định tại Điều 317 nêu trên, nhưng các nhà đầu tư muốn áp dụng thủ tục xét xử rút gọn, có văn bản thỏa thuận đề nghị, thì cũng nên nghiên cứu áp dụng. Cơ sở để áp dụng thủ tục xét xử rút gọn trong các trường hợp này là quy định tại khoản 3 Điều 316 Bộ luật tố tụng dân sự: Trường hợp luật khác có quy định tranh chấp dân sự được giải quyết theo thủ tục rút gọn thì việc giải quyết tranh chấp đó được thực hiện theo thủ tục quy định tại Phần này.

2.6. Về các luật liên quan đến tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân đặc khu

2.6.1. Đối với việc tổ chức Tòa án nhân dân đặc khu
Về cơ bản, Tòa án nhân dân đặc khu có cơ cấu và tổ chức như Tòa án nhân dân cấp huyện, nên việc tổ chức các Tòa án nhân dân đặc khu không cần phải sửa đổi, bổ sung Luật tổ chức Tòa án nhân dân. Để thành lập các Tòa án nhân dân đặc khu, chỉ cần xây dựng đề án, trong đó nêu rõ cơ cấu thẩm phán, điều kiện và lộ trình thành lập các tòa chuyên trách, nhất là tòa kinh tế, tòa hành chính, Tòa lao động, vấn đề đào tạo, tập huấn các thẩm phán chuyên trách…
2.6.2. Đối với việc giải quyết tranh chấp trong hoạt động đầu tư kinh doanh
Trong trường hợp, nếu cho phép các nhà đầu tư tại đặc khu thỏa thuận lựa chọn thủ tục xét xử rút gọn đối với những vụ án không đủ điều kiện xét xử rút gọn theo quy định của BLTTDS, sẽ không cần phải sửa đổi, bổ sung BLTTDS mà quy định trực tiếp trong Luật đặc khu hành chính - kinh tế đặc biệt. Cụ thể, Điều 22 Dự thảo Luật đặc khu hành chính- kinh tế đặc biệt quy định về giải quyết tranh chấp trong hoạt động đầu tư kinh doanh sẽ bổ sung thêm khoản 2 với nội dung: Trường hợp lựa chọn Tòa án Việt Nam giải quyết, các nhà đầu tư có thể thỏa thuận bằng văn bản đề nghị giải quyết theo thủ tục xét xử rút gọn. Nếu bổ sung thêm quy định này, Tòa án nhân dân đặc khu sẽ có căn cứ áp dụng thủ tục xét xử rút gọn không theo các điều kiện quy định tại Điều 317 BLTTDS mà áp dụng theo khoản 3 Điều 316 BLTTDS.
3. Từ mô hình Tòa án nhân dân đặc khu, việc tổ chức Viện kiểm sát nhân dân đặc khu, cơ quan thi hành án dân sự đặc khu cũng được thực hiện tương tự để tương thích với Tòa án nhân dân đặc khu, phù hợp với đặc thù của đặc khu hành chính – kinh tế đặc biệt.
Riêng đối với thủ tục thi hành án hình sự ngoài hình phạt tù, biện pháp xử phạt hành chính và một số biện pháp khác liên quan đến hoạt động tư pháp là những biện pháp chủ yếu do Ủy ban nhân dân cấp cơ sở (cấp xã, phường) đảm nhận.
-------------------------
[1] Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 1960 (chú thích của tác giả)
[2] Pháp lệnh quy định cụ thể về tổ chức của Toà án nhân dân tối cao và tổ chức của Toà án nhân dân địa phương (chú thích của tác giả)
[3] Năm 1991, đặc khu kinh tế này chấm dứt hoạt động để thành lập địa danh hành chính mới là tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
Nguồn: Tạp chí Toà án nhân dân điện tử

Để được tư vấn và đăng ký sử dụng dịch vụ quý khách xin vui lòng liên hệ
TỔNG ĐÀI LUẬT SƯ TƯ VẤN PHÁP LUẬT TRỰC TUYẾN 24/7: 1900 6589
TỔNG ĐÀI LUẬT SƯ TƯ VẤN PHÁP LUẬT
 1900 6589
  Lưu ý: Các thông tin pháp lý đăng tải được trả lời bởi các luật sư, chuyên viên tư vấn uy tín, giàu kinh nghiệm. Tuy nhiên tất cả các thông tin, trích dẫn chỉ mang tính chất tham khảo do các văn bản pháp luật dẫn chiếu có thể đã hết hiệu lực hoặc được thay thế tại thời điểm hiện tại. Khách hàng truy cập trang không được áp dụng một cách tùy tiện mà chưa tham khảo ý kiến của luật sư.
VIỆT PHONG - TIÊN PHONG LUẬT VIỆT

Tổng đài luật sư tư vấn pháp luật
Văn phòng phía Bắc (Hà Nội)
P.1714-CT2B, tòa nhà 789, khu đô thị Ngoại Giao Đoàn, P.Xuân Đỉnh, Q.Bắc Từ Liêm


Menu dịch vụ

CHÚNG TÔI HỖ TRỢ KHÁCH HÀNG 7 ngày trong tuần với hotline
HOTLINE TƯ VẤN PHÁP LUẬT
Bản quyền thuộc về Luật Việt Phong - Mọi sự sao chép phải được sự chấp thuận của Công ty Luật Việt Phong bằng văn bản. (© Copyright 2015 - 2019), ® All Reserved.
Gọi luật sư: 19006589