Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra

Thứ Năm, 13/10/2016 | 12:52 GMT+7 | 
Lượt xem: 2811

Tóm tắt câu hỏi:

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra

Chào Luật sư, luật sư cho tôi hỏi vấn đề sau: Bạn tôi, sau đây gọi là anh A. A lái ô tô trên đường cao tốc, với tốc độ 100km/h, đi đến một đoạn đường thì tự nhiên có 1 con bò bất ngờ chạy qua đường. Vì quá bất ngờ không kịp dừng xe nên anh A đã đâm vào con bò. Kết quả là con bò chết, anh A bị thương tật 30%, ô tô bị hư hỏng nặng. Vậy, bên nào phải bồi thường cho bên nào?  trách nhiệm của mỗi bên như thế nào?

Mong nhận được câu trả lời của luật sư, tôi xin cảm ơn!

Người gửi: Đào Hải Nam (Thanh Hóa)

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra

( Ảnh minh họa:Internet)
Tư vấn luật: 1900 6589

Luật sư tư vấn:

Xin chào bạn! Cám ơn bạn đã gửi câu hỏi của mình tới Luật Việt Phong. Về câu hỏi của bạn, công ty Luật Việt Phong xin tư vấn và hướng dẫn bạn như sau:

1/ Căn cứ pháp lý

–  Bộ Luật Dân sự năm 2005

– Thông tư 91/2015/TT-BGTVT quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ

– Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ Luật dân sự năm 2005 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

2/  Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra

Theo như thông tin bạn cung cấp, bạn đã đâm phải một con bò, mà bò được xem là một loại súc vật. Theo đó, căn cứ theo Điều 625 Bộ luật Dân sự 2005 quy định về bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra:

"1. Chủ sở hữu súc vật phải bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra cho người khác; nếu người bị thiệt hại hoàn toàn có lỗi trong việc làm súc vật gây thiệt hại cho mình thì chủ sở hữu không phải bồi thường.

2. Trong trường hợp người thứ ba hoàn toàn có lỗi làm cho súc vật gây thiệt hại cho người khác thì người thứ ba phải bồi thường thiệt hại; nếu người thứ ba và chủ sở hữu cùng có lỗi thì phải liên đới bồi thường thiệt hại.

3. Trong trường hợp súc vật bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật gây thiệt hại thì người chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật phải bồi thường;

4. Trong trường hợp súc vật thả rông theo tập quán mà gây thiệt hại thì chủ sở hữu súc vật đó phải bồi thường theo tập quán nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội."

Như vậy, khi bạn đâm phải con bò khi đi trên đường cao tốc, mà bạn đã bị thiệt hại về cả sức khỏe lẫn (thương tật 30%) về tài sản (ô tô bị hư hỏng nặng). Tuy nhiên, trong tình huống của bạn cần phải xác định rõ ai là chủ sở hữu của con bò đó, và việc con bò đó chạy trên đường cao tốc là do nguyên nhân gì? Do tập quán thả rông súc vật, do người thứ ba gây ra, hay do chính chủ sở hữu con bò đó gây ra,… Tùy thuộc vào từng trường hợp thì người bồi thường thiệt hại cho bạn sẽ khác nhau theo quy định tại Điều 625 trên.

Bên cạnh đó, cần xác định hành vi của bạn: Bạn đi xe ô tô với tốc độ 100km/h, dù là loại xe nào cũng đã vượt quá tốc độ cho phép của ô tô khi đi trên đường cao tốc, chưa kể là đường cao tốc đó trong khu vực đông dân cư hay ngoài khu vực đông dân cư, bạn đã vượt quá quy định về tốc độ nên rất có thể bạn sẽ bị phạt vi phạm tốc độ giao thông đường bộ. Hơn nữa, khi bạn vượt quá tốc độ cho phép thì lỗi trong trường hợp này cũng một phần là do bạn, do đó, bạn cũng có thể sẽ phải bồi thường thiệt hại cho bên kia theo khoản 1 Điều 625 Bộ Luật Dân sự năm 2005. Còn nếu thuộc một trong những trường hợp phải giảm tốc độ mà bạn vẫn đi với tốc độ 100km/h thì trong trường hợp này bạn là người có lỗi khi đâm phải con bò theo Điều 5 Thông tư 91/2015/TT-BGTVT:

"Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải giảm tốc độ thấp hơn tốc độ tối đa cho phép (có thể dừng lại một cách an toàn) trong các trường hợp sau:

1. Có bin cảnh báo nguy hiểm hoặc có chướng ngại vật trên đường.

2. Chuyển hướng xe chạy hoặc tầm nhìn bị hạn chế.

3. Qua nơi đường bộ giao nhau cùng mức; nơi đường bộ giao nhau cùng mức với đường sắt; đường vòng; đường có địa hình quanh co, đèo dốc; đoạn đường mà mặt đường không êm thuận.

4. Qua cu, cống hẹp; khi lên gần đỉnh dốc, khi xuống dốc.

5. Qua khu vực có trường học, bệnh viện, bến xe, công trình công cộng tập trung nhiều người; khu vực đông dân cư, nhà máy, công sở tập trung bên đường; khu vực đang thi công trên đường bộ; hiện trường xảy ra tai nạn giao thông.

6. Khi có người đi bộ, xe lăn của người khuyết tật qua đường.

7. Có súc vật đi trên đường hoặc chăn thả ở sát đường.

8. Tránh xe chạy ngược chiều hoặc khi cho xe chạy sau vượt.

9. Đến gần bến xe buýt, điểm dừng đỗ xe có khách đang lên, xuống xe.

10. Gặp xe ưu tiên đang thực hiện nhiệm vụ; gặp xe quá khổ, quá tải, xe chở hàng nguy hiểm; gặp đoàn người đi bộ.

11. Trời mưa; có sương mù, khói, bụi; mặt đường trơn trượt, lầy lội, có nhiều đất đá, cát bụi rơi vãi.

12. Khi điều khiển phương tiện đi qua khu vực trạm kiểm soát tải trọng xe, trạm cảnh sát giao thông, trạm thu phí.”

Điều 6, Điều 7 Thông tư 91/2015/TT-BGTVT có hiệu lực ngày 1/3/2016 quy định về tốc độ và khoảng cách của xe cơ giới xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ nêu rõ:

"Điều 6. Tốcđộ tối đa cho phép xe cơ giới trên đường bộ (trừ đường cao tốc) trong khu vực đông dân cư

Loại xe cơ giới đường bộ

Tốc độ tối đa (km/h)

Đường đôi (có dải phân cách giữa); đường một chiều có từ 2 làn xe cơ giới trở lên

Đường hai chiều không có dải phân cách giữa; đường một chiều có một làn xe cơ giới

Các phương tiện xe cơ giới, trừ các xe được quy định tại Điều 8 Thông tư này.

60

50

Điều 7. Tốc độ tối đa cho phép xe cơ giới trên đường bộ (trừ đường cao tốc) ngoài khu vực đông dân cư

Loại xe cơ giới đường bộ

Tốc độ tối đa (km/h)

Đường đôi (có dải phân cách giữa); đường một chiều có từ 2 làn xe cơ giới trở lên

Đường hai chiều không có dải phân cách giữa; đường một chiều có một làn xe cơ giới

Xe con, xe chở người đến 30 chỗ (trừ xe buýt); xe tải có trọng tải đến 3,5 tấn.

90

80

Xe chở người trên 30 chỗ (trừ xe buýt); xe tải có trọng tải trên 3,5 tấn.

80

70

Bust; ôtô đầu kéo kéo sơ mi rơ moóc; ôtô chuyên dùng;  môtô.

70

60

Ôtô kéo rơ moóc; ôtô kéo xe khác.

60

50

Nếu bạn vi phạm quy định về tốc độ cũng như thuộc một trong các trường hợp về giảm tốc độ như phân tích trên, khi đó, bạn sẽ là người có lỗi và bạn phải bồi thường thiệt hại, phía bên kia không phải bồi thường cho bạn.

Như vậy, do thông tin bạn cung cấp là chưa đầy đủ, trong trường hợp này tùy thuộc vào lỗi của từng người thì bên đó phải bồi thường thiệt hại. Do đó, hai bên có thể thỏa thuận với nhau về mức bồi thường thiệt  hại cho phù hợp. Bên kia phải bồi thường thiệt hại về sức khỏe và tài sản là chiếc ô tô bị hư hỏng nặng cho bạn, còn bạn phải bồi thường thiệt hại về tài sản cho bên kia là con bò bị chết.

 Việc xác định mức bồi thường thiệt hại được xác định theo được quy định tại Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP như sau:

” Thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm
Thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm được bồi thường bao gồm:
1.1. Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khoẻ và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại bao gồm: tiền thuê phương tiện đưa người bị thiệt hại đi cấp cứu tại cơ sở y tế; tiền thuốc và tiền mua các thiết bị y tế, chi phí chiếu, chụp X quang, chụp cắt lớp, siêu âm, xét nghiệm, mổ, truyền máu, vật lý trị liệu… theo chỉ định của bác sỹ; tiền viện phí; tiền mua thuốc bổ, tiếp đạm, tiền bồi dưỡng phục hồi sức khoẻ cho người bị thiệt hại theo chỉ định của bác sỹ; các chi phí thực tế, cần thiết khác cho người bị thiệt hại (nếu có) và các chi phí cho việc lắp chân giả, tay giả, mắt giả, mua xe lăn, xe đẩy, nạng chống và khắc phục thẩm mỹ… để hỗ trợ hoặc thay thế một phần chức năng của cơ thể bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại (nếu có).
1.2. Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại. Nếu trước khi sức khoẻ bị xâm phạm người bị thiệt hại có thu nhập thực tế, nhưng do sức khoẻ bị xâm phạm họ phải đi điều trị và do đó khoản thu nhập thực tế của họ bị mất hoặc bị giảm sút, thì họ được bồi thường khoản thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút đó.
a) Thu nhập thực tế của người bị thiệt hại được xác định như sau:
– Nếu trước khi sức khoẻ bị xâm phạm, người bị thiệt hại có thu nhập ổn định từ tiền lương trong biên chế, tiền công từ hợp đồng lao động, thì căn cứ vào mức lương, tiền công của tháng liền kề trước khi người đó bị xâm phạm sức khoẻ nhân với thời gian điều trị để xác định khoản thu nhập thực tế của người bị thiệt hại.
– Nếu trước khi sức khoẻ bị xâm phạm, người bị thiệt hại có làm việc và hàng tháng có thu nhập thực tế nhưng mức thu nhập của các tháng khác nhau, thì lấy mức thu nhập trung bình của 6 tháng liền kề (nếu chưa đủ 6 tháng thì của tất cả các tháng) trước khi sức khoẻ bị xâm phạm nhân với thời gian điều trị để xác định khoản thu nhập thực tế của người bị thiệt hại.
– Nếu trước khi sức khoẻ bị xâm phạm, người bị thiệt hại có thu nhập thực tế, nhưng không ổn định và không thể xác định được, thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại nhân với thời gian điều trị để xác định khoản thu nhập thực tế của người bị thiệt hại.
– Nếu trước khi sức khoẻ bị xâm phạm, người bị thiệt hại chưa làm việc và chưa có thu nhập thực tế thì không được bồi thường theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 609 BLDS.
b) Xác định thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại được thực hiện như sau:
Bước một: Xác định thu nhập thực tế của người bị thiệt hại trong thời gian điều trị có hay không. Nếu có thì tổng số thu nhập là bao nhiêu.
Bước hai: Lấy tổng số thu nhập thực tế mà người bị thiệt hại có được trong thời gian điều trị so sánh với thu nhập thực tế tương ứng được xác định theo hướng dẫn tại điểm a tiểu mục 1.2 này. Nếu không có khoản thu nhập thực tế nào của người bị thiệt hại trong thời gian điều trị thì thu nhập thực tế của người bị thiệt hại bị mất; nếu thấp hơn thì khoản chênh lệch đó là thu nhập thực tế của người bị thiệt hại bị giảm sút; nếu bằng thì thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không bị mất.

1.3. Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị.
a) Chi phí hợp lý cho người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị bao gồm: tiền tàu, xe đi lại, tiền thuê nhà trọ theo giá trung bình ở địa phương nơi thực hiện việc chi phí (nếu có) cho một trong những người chăm sóc cho người bị thiệt hại trong thời gian điều trị do cần thiết hoặc theo yêu cầu của cơ sở y tế.
b) Thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị được xác định như sau:
– Nếu người chăm sóc người bị thiệt hại có thu nhập thực tế ổn định từ tiền lương trong biên chế, tiền công từ hợp đồng lao động thì căn cứ vào mức lương, tiền công của tháng liền kề trước khi người đó phải đi chăm sóc người bị thiệt hại nhân với thời gian chăm sóc để xác định khoản thu nhập thực tế bị mất.
– Nếu người chăm sóc người bị thiệt hại có làm việc và hàng tháng có thu nhập ổn định, nhưng có mức thu nhập khác nhau thì lấy mức thu nhập trung bình của 6 tháng liền kề (nếu chưa đủ 6 tháng thì của tất cả các tháng) trước khi người đó phải đi chăm sóc người bị thiệt hại nhân với thời gian chăm sóc để xác định khoản thu nhập thực tế bị mất.
– Nếu người chăm sóc người bị thiệt hại không có việc làm hoặc có tháng làm việc, có tháng không và do đó không có thu nhập ổn định thì được hưởng tiền công chăm sóc bằng mức tiền công trung bình trả cho người chăm sóc người tàn tật tại địa phương nơi người bị thiệt hại cư trú.
– Nếu trong thời gian chăm sóc người bị thiệt hại, người chăm sóc vẫn được cơ quan, người sử dụng lao động trả lương, trả tiền công lao động theo quy định của pháp luật lao động, bảo hiểm xã hội thì họ không bị mất thu nhập thực tế và do đó không được bồi thường.

1.5. Khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần do sức khoẻ bị xâm phạm.
  a) Khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần do sức khoẻ bị xâm phạm được bồi thường cho chính người bị thiệt hại.
  b) Trong mọi trường hợp, khi sức khoẻ bị xâm phạm, người bị thiệt hại được bồi thường khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần. Cần căn cứ vào hướng dẫn tại điểm b tiểu mục 1.1 mục 1 Phần I Nghị quyết này để xác định mức độ tổn thất về tinh thần của người bị thiệt hại. Việc xác định mức độ tổn thất về tinh thần cần căn cứ vào sự ảnh hưởng đến nghề nghiệp, thẩm mỹ, giao tiếp xã hội, sinh hoạt gia đình và cá nhân…
c) Mức bồi thường khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần cho người bị thiệt hại trước hết do các bên thoả thuận. Nếu không thoả thuận được, thì mức bồi thường khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần cho người bị thiệt hại phải căn cứ vào mức độ tổn thất về tinh thần, nhưng tối đa không quá 30 tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định tại thời điểm giải quyết bồi thường.”

Hy vọng rằng những tư vấn trên của chúng tôi có thể giúp bạn giải quyết được vấn đề của mình. 

Trên đây là tư vấn của công ty Luật Việt Phong về Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra. Chúng tôi hi vọng rằng quý khách có thể vận dụng các kiến thức kể trên để sử dụng trong công việc và cuộc sống. Nếu có vấn đề pháp lý nào khác cần tư vấn quý khách vui lòng gọi điện tới tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến 24/7 của công ty Luật Việt Phong để gặp luật sư tư vấn và chuyên viên pháp lý.

Để được tư vấn và đăng ký sử dụng dịch vụ quý khách xin vui lòng liên hệ
TỔNG ĐÀI LUẬT SƯ TƯ VẤN PHÁP LUẬT TRỰC TUYẾN 24/7: 1900 6589
TỔNG ĐÀI LUẬT SƯ TƯ VẤN PHÁP LUẬT
 1900 6589
  Lưu ý: Các thông tin pháp lý đăng tải được trả lời bởi các luật sư, chuyên viên tư vấn uy tín, giàu kinh nghiệm. Tuy nhiên tất cả các thông tin, trích dẫn chỉ mang tính chất tham khảo do các văn bản pháp luật dẫn chiếu có thể đã hết hiệu lực hoặc được thay thế tại thời điểm hiện tại. Khách hàng truy cập trang không được áp dụng một cách tùy tiện mà chưa tham khảo ý kiến của luật sư.
VIỆT PHONG - TIÊN PHONG LUẬT VIỆT

Tổng đài luật sư tư vấn pháp luật
Văn phòng phía Bắc (Hà Nội)
P.1714-CT2B, tòa nhà 789, khu đô thị Ngoại Giao Đoàn, P.Xuân Đỉnh, Q.Bắc Từ Liêm


Menu dịch vụ

CHÚNG TÔI HỖ TRỢ KHÁCH HÀNG 7 ngày trong tuần với hotline
HOTLINE TƯ VẤN PHÁP LUẬT
Bản quyền thuộc về Luật Việt Phong - Mọi sự sao chép phải được sự chấp thuận của Công ty Luật Việt Phong bằng văn bản. (© Copyright 2015 - 2020), ® All Reserved.
Gọi luật sư: 19006589