Xác định các chủ thể và điều kiện để chủ thể được hưởng di sản theo thời hiệu

Thứ Tư, 24/01/2018 | 14:23 GMT+7 | 
Lượt xem: 1592
Tưởng Duy Lượng, nguyên Phó Chánh án Tòa án nhân dân tối cao
Pháp lệnh thừa kế các Bộ luật Dân sự (BLDS) trước đây không quy định di sản hết thời hiệu khởi kiện sẽ xử lý như thế nào? thuộc quyền sở hữu, sử dụng của ai? ai có quyền quyết định vấn đề này? Bộ luật Dân sự năm 2015 đã khắc phục được vấn đề này.
Theo khoản 1 Điều 623 BLDS năm 2015, di sản hết thời hiệu khởi kiện yêu cầu chia di sản sẽ thuộc quyền sở hữu của một trong ba đối tượng là người thừa kế đang quản lý di sản; người đang chiếm hữu di sản hoặc nhà nước.

1. Về chủ thể là người thừa kế đang quản lý di sản

Tại khoản 1 Điều 623 BLDS 2015 đã quy định rất rõ là hết thời hạn yêu cầu chia di sản "thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó”. Như vậy, có thể hiểu phần di sản hết thời hiệu khởi kiện đang do người thừa kế quản lý thì người thừa kế được quyền sử dụng, được sở hữu đối với tài sản là di sản thừa kế.
Đối với Ủy ban nhân dân cấp huyện: Nếu tài sản đó theo quy định của pháp luật phải kê khai, đăng ký xin cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng thì khi người thừa kế này đưa ra các tài liệu, chứng cứ chứng minh là di sản đó đã hết thời hiệu khởi kiện yêu cầu chia thừa kế, và họ là người thừa kế đang quản lý di sản hết thời hiệu thừa kế, không có tranh chấp thì Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền phải thực hiện việc đăng ký quyền sử dụng, quyền sở hữu cho người thừa kế đó.
Đối với Tòa án nhân dân: Trong trường hợp có tranh chấp, có thể tranh chấp thừa kế như đã quá thời hiệu khởi kiện nhưng các thừa kế vẫn khởi kiện yêu cầu Tòa án chia thừa kế; hoặc người khởi kiện chứng minh còn thời hiệu khởi kiện chia di sản thừa kế do thuộc trường hợp quy định tại Điều 156, 157 BLDS;
– Các chủ thể tranh chấp quyền sở hữu, quyền sử dụng theo quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 155;
– Trường hợp khác do pháp luật quy định.
Các trường hợp nói trên nếu đương sự khởi kiện, xuất trình những tài liệu, chứng cứ cơ bản của từng loại quan hệ pháp luật đang tranh chấp thì Tòa án phải thụ lý, tùy thuộc diễn biến của vụ án, tài liệu, chứng cứ thu thập được và yêu cầu của mỗi bên Tòa án có quyết định tương ứng. Muốn có phán quyết chính xác, Thẩm phán phải nắm vững những quy định trong BLDS năm 2015 và luật khác có liên quan.
Trong thực tế, các Tòa án sẽ tiếp tục gặp trường hợp người khởi kiện yêu cầu chia thừa kế thì thời hiệu khởi kiện không còn, do luật đã có thay đổi khác trước Tòa án không đương nhiên xác định hết thời hiệu, đình chỉ giải quyết yêu cầu chia thừa kế như thời gian vừa qua, là vấn đề cần phải lưu ý.
Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định hết thời hiệu yêu cầu chia di sản thừa kế "… thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó”, vậy "người thừa kế” trong quy định này được hiểu như thế nào là đúng? Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định những người thừa kế thành những hàng thừa kế khác nhau và thứ tự hưởng thừa kế tại Điều 651.
Theo quy định của BLDS năm 2015 thì người thừa kế chỉ bao gồm các cá nhân, vậy người thừa kế có bao gồm tổ chức không? bởi vì, khối di sản hết thời hiệu có thể đang do nhiều đối tượng quản lý, có đối tượng thuộc hàng thừa kế thứ nhất quản lý, có phần di sản đang do người ở các hàng thừa kế sau quản lý, có phần di sản không do người thừa kế quản lý, mà do người ngoài gia tộc quản lý, thì ai sẽ được hưởng khối di sản hết thời hiệu đó? "Người thừa kế” có phải tuân theo thứ tự hưởng tài sản hết thời hiệu tương tự như quy định tại khoản 3 Điều 651 là không có người thừa kế nào ở hàng thứ nhất đang quản lý di sản, thì người thừa kế ở hàng thừa kế sau đang quản lý di sản mới được quyền hưởng di sản hay không? khối di sản hay một phần di sản đã được định đoạt theo di chúc thì việc xác định hết thời hiệu và xác định "người thừa kế” được hưởng di sản hết thời hiệu có gì khác so với phần di sản không được định đoạt theo di chúc hay không? Thuật ngữ "đang quản lý di sản” cần phải hiểu, phải giải thích như thế nào là đúng với tinh thần của luật? "đang quản lý” có gì khác với người "đang chiếm hữu” không?…
Tác giả không đồng tình với ý kiến cho rằng người thừa kế chỉ là cá nhân, không có tổ chức; ý kiến này chỉ đúng trong trường hợp thừa kế theo pháp luật, nhưng nếu thừa kế theo di chúc sẽ phụ thuộc ý chí của người lập di chúc. Do đó, "người thừa kế” đề cập trong Điều 623 BLDS năm 2015, đề nghị cơ quan có thẩm quyền phải hướng dẫn, giải thích theo hướng bao gồm cá nhân, tổ chức. Khi hết thời hiệu yêu cầu chia di sản thừa kế mà phần di sản do tổ chức quản lý thì di sản thuộc về tổ chức đang quản lý di sản đó. Song, cần phải phân biệt khi nào một tổ chức được coi là "người thừa kế” và được hưởng di sản hết thời hiệu theo quy định tại đoạn thứ nhất của khoản 1 Điều 623; khi nào tổ chức không phải là "người thừa kế” và chỉ được hưởng phần di sản hết thời hiệu do tổ chức đang quản lý theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 623 là điều cần lưu ý để không bị nhầm lẫn, nếu nhầm lẫn sẽ dẫn đến sai lầm nghiêm trọng trong đường lối xử lý vụ án.
Tại khoản 1 Điều 623 BLDS khi đề cập đến đối tượng là người thừa kế thì nhà làm luật dùng thuật ngữ người đang "quản lý di sản”, khi đối tượng đó không phải là người thừa kế nhà làm luật dùng thuật ngữ người đang "chiếm hữu” di sản đã hết thời hiệu yêu cầu chia thừa kế mới thuộc quyền sở hữu của các chủ thể đó. Vậy giữa hai thuật ngữ "quản lý”, "chiếm hữu” có nội dung khác nhau hay giống nhau?
Qua nghiên cứu Từ điển luật học (1) và BLDS năm 2005 (2) đều có một điểm chung coi chiếm hữu hoặc quyền chiếm hữu đã bao hàm "quản lý” còn BLDS năm 2015 không coi việc chiếm hữu bao hàm quản lý.
Quản lý với ý nghĩa là sự tác động của chủ thể tới đối tượng quản lý là di sản thừa kế; người thừa kế có thể trực tiếp nắm giữ, chi phối tài sản như các chủ thể khác đang chiếm hữu tài sản là di sản thừa kế, những người thừa kế có thể không trực tiếp chiếm hữu di sản vẫn được công nhận là đang quản lý di sản; ví dụ người thừa kế cho người khác thuê, mượn, nhờ trông coi, bảo quản hộ, thuê người quản lý di sản, thuê người trông coi, bảo quản, khai thác công dụng của di sản… mặc dù người đang "chiếm hữu” trực tiếp di sản là các đối tượng đang thuê hoặc người trông coi, bảo quản hộ tài sản là di sản thừa kế…, nhưng họ không phải là người quản lý di sản theo nghĩa của đoạn một khoản 1 Điều 623, nên không thể công nhận cho những chủ thể đó được sở hữu phần di sản hết thời hiệu theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 623, mà phải coi người thừa kế mới là người đang quản lý di sản, được sở hữu tài sản là di sản thừa kế hết thời hiệu như quy định tại đoạn thứ nhất khoản 1 Điều 623 là: "… Hết thời hạn này thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó…”.
Như vậy, "người thừa kế” là một loại chủ thể có thể được hưởng phần di sản hết thời hiệu (dù có thể ở thời điểm hết thời hiệu họ không trực tiếp nắm giữ, không trực tiếp chiếm hữu di sản nhưng vẫn được coi là người đang quản lý di sản).

Điều kiện để người thừa kế được hưởng di sản theo thời hiệu:

Người thừa kế là một thuật ngữ để chỉ tất cả những người ở hàng thừa kế thứ nhất, thứ hai, thứ ba, người được hưởng di sản theo di chúc. Luật không quy định thứ tự các thừa kế được sở hữu di sản hết thời hiệu, mà chỉ quy định chung là người thừa kế đang quản lý di sản. Như vậy,  theo quy định tại đoạn 1 khoản 1 Điều 623, chỉ cần những chủ thể thỏa mãn các điều kiện thì có thể xác định với tư cách "người thừa kế” được sở hữu tài sản là di sản thừa kế hết thời hiệu, đó là: Thứ nhất, chủ thể phải là người thuộc diện thừa kế theo pháp luật, hoặc thuộc diện được thừa kế theo di chúc; thứ hai, tại thời điểm hết thời hiệu chủ thể đó phải là người đang quản lý di sản.
Sở dĩ xác định "tại thời điểm hết thời hiệu” là một trong những tiêu chí cho điều kiện thứ hai vì từ "đang” là từ chỉ thì hiện tại, cái đang hiện hữu, đang diễn ra, đang tồn tại chứ không phải thì quá khứ hay thì tương lai. Do đó, việc người thừa kế đang quản lý di sản có ý nghĩa quan trọng. Nếu trước khi hết thời hiệu mà có người thừa kế từng có thời gian dài quản lý di sản, nhưng tại thời điểm hết thời hiệu lại không "quản lý di sản” thì cũng không thuộc diện được sở hữu di sản hết thời hiệu.
Qua thực tiễn có trường hợp phức tạp, khó xác định ai là người thừa kế đang quản lý di sản hết thời hiệu, ví dụ: Ông A đã trực tiếp quản lý di sản là nhà đất trên 20 năm, đến năm thứ 28, 29 vì phải đi làm ăn xa, ra nước ngoài chăm con… nên đã nhờ hoặc thuê một thừa kế khác (ông B) trong cùng hàng thừa kế hoặc hàng thừa kế khác trông coi di sản; khi người này trở về người thừa kế được nhờ hoặc thuê trông giữ di sản không giao trả lại, và viện dẫn theo đoạn đầu khoản 1 Điều 623 để cho rằng mình được hưởng di sản theo thời hiệu.
Trong ví dụ này, nếu chỉ nhìn thực tế tại thời điểm hết thời hiệu ông B (được nhờ trông coi di sản) là người trực tiếp chiếm hữu di sản, trông coi bảo quản di sản nhưng xem xét theo bản chất của sự việc thì phải xác định ông A người đã nhờ ông B trông coi mới là người đang quản lý di sản, ông B tuy có thời gian trông coi, giữ gìn chiếm hữu di sản trên thực tế, nhưng ông chỉ là người thực hiện hành vi theo một hợp đồng gửi giữ có đền bù hoặc không có đền bù. Nói cách khác, ông B chỉ là một "công cụ” do ông A sử dụng, vậy không thể công nhận ông B là chủ thể đích thực trong quan hệ đó, lỗi của ông A là đã giao di sản cho ông B cũng là một thừa kế vào thời điểm nhạy cảm dẫn đến tranh chấp.
Những trường hợp tương tự như thế này phức tạp nhất là vấn đề chứng cứ của vụ án, ông A có cung cấp được chứng cứ chứng minh cho quan hệ gửi giữ hay ủy quyền quản lý di sản không? nếu có đủ căn cứ thì phải công nhận ông A mới là người được hưởng di sản theo thời hiệu. Ngược lại, ông A không chứng minh được thì phải công nhận ông B là người quản lý di sản ở thời điểm hết thời hiệu.
Trường hợp này có công nhận cho người thừa kế được hưởng di sản hết thời hiệu khởi kiện không? Quan điểm của tác giả người thừa kế (ông A) mới là chủ thể được hưởng di sản thừa kế hết thời hiệu, vì ông mới chính là người thừa kế đang quản lý di sản.
Đối với người thừa kế, luật không đòi hỏi điều kiện về thời gian quản lý di sản bao nhiêu lâu, tức là không cần phải chiếm hữu liên tục 10 năm đối với động sản, 30 năm đối với bất động sản mới được sở hữu di sản hết thời hiệu như với chủ thể khác, mà luật chỉ đòi hỏi tại thời điểm hết thời hiệu người thừa kế phải là người đang quản lý di sản.

2. Chủ thể là người đang chiếm hữu di sản

Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định chiếm hữu không bao hàm quản lý, hay nói một cách chính xác trong khái niệm chiếm hữu tại Điều 179 không có thuật ngữ "quản lý”, nhưng bên cạnh việc quy định "chiếm hữu là việc chủ thể nắm giữ” thì còn có khả năng "chi phối” tài sản trực tiếp hoặc gián tiếp như chủ thể có quyền đối với tài sản.
Phải chăng nội hàm thuật ngữ chiếm hữu trong BLDS năm 2015 dù không dùng thuật ngữ "quản lý” song vẫn thừa nhận cả hoạt động quản lý tài sản, hay là phải hiểu theo hướng có điểm hẹp hơn (hay rộng hơn) so với nội hàm thuật ngữ quản lý? Tác giả thấy khó chỉ rõ trong trường hợp này và chắc chắn nhiều người có cùng suy nghĩ, nên rất cần sự giải thích, hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyền.
Có lẽ không nên đồng nhất nội dung hai thuật ngữ "quản lý”"chiếm hữu” đã được sử dụng trong khoản 1 Điều 623; song cũng không thể giải thích chiếm hữu chỉ là trực tiếp nắm giữ tài sản, dù không trực tiếp nắm giữ nhưng chủ thể vẫn chi phối được tài sản đó thì vẫn công nhận chủ thể đó là người "đang chiếm hữu” di sản. Nhưng thế nào là chi phối? Nói khác đi chi phối có nội hàm như thế nào cũng là thuật ngữ phải được cơ quan có thẩm quyền giải thích cụ thể, giúp cho việc nhận thức các quy định của luật được đầy đủ, sâu sắc khi đó mới có khả năng áp dụng pháp luật được chính xác.
Theo tác giả "chi phối” đưa đến một cảm thức sinh động, là khả năng tác động của chủ thể tới di sản ngay cả khi di sản rời khỏi sự chiếm hữu thực tế của chủ thể. Khi chủ thể không trực tiếp chiếm hữu di sản nhưng vẫn có quyền tác động đến di sản theo ý chí của mình, di sản vẫn thuộc quyền điều tiết của chủ thể thì vẫn công nhận tính liên tục chiếm hữu của chủ thể. Ví dụ "người đang chiếm hữu di sản” gửi người khác trông coi, bảo quản di sản đó cho mình, hoặc cho người khác mượn di sản mình đang chiếm hữu, cho người khác thuê di sản thì thời gian người trông giữ, người mượn, người thuê tài sản là di sản, dù có chiếm hữu thực tế di sản thì vẫn xác định tính liên tục về thời gian chiếm hữu cho chủ thể gửi hoặc cho người đã cho người khác mượn, cho người khác thuê tài sản là di sản đó.

Điều kiện để chủ thể đang chiếm hữu di sản được hưởng di sản hết thời hiệu:

Thứ nhất, điều kiện về ý thức khi thực hiện việc chiếm hữu (chủ quan): Phải chiếm hữu ngay tình, công khai. Chiếm hữu ngay tình tại Điều 180 quy định: "Chiếm hữu ngay tình là việc chiếm hữu mà người chiếm hữu có căn cứ để tin rằng mình có quyền đối với tài sản đang chiếm hữu”.
Quy định trên có thể hiểu việc xác định là ngay tình hoàn toàn do ý thức chủ quan của chủ thể chiếm hữu quyết định. Vì "có căn cứ để tin” không phải là căn cứ khách quan, mà là "căn cứ” theo cách nghĩ "tin” của người chiếm hữu. Ví dụ một người do tham lam lợi dụng người hàng xóm gặp khó khăn phải đi làm ăn xa, đã di dời mốc rất tinh vi để lấn chiếm đất của nhà bên cạnh. Nay người chiếm hữu viện dẫn căn cứ thời điểm chiếm hữu không ai ngăn cản, thời gian chiếm hữu suốt 10 năm đối với động sản, 30 năm đối với bất động sản không ai tranh chấp với mình để cho rằng chủ thể tin là mình có quyền chiếm hữu tài sản đó, mình chiếm hữu ngay tình. Vậy mọi chủ thể khác cũng phải tôn trọng, theo niềm tin của người chiếm hữu trong đó có cả Tòa án cũng phải xác định là chiếm hữu ngay tình? Theo tác giả quy định tại Điều 180 là không hợp lý, do không thể hiện mối liên hệ khách quan trong ý thức chủ quan của người chiếm hữu, mới đơn thuần theo tư duy chủ quan, hoàn toàn phụ thuộc vào chủ quan của người chiếm hữu.
Có thể sẽ rõ hơn khi quy định: Chiếm hữu ngay tình là việc chiếm hữu mà người chiếm hữu không biết hoặc không thể biết là mình không có quyền đối với tài sản mà mình đang chiếm hữu. Không biết là chủ quan nhưng chính những tình tiết khách quan diễn ra khi họ có được tài sản, chiếm hữu tài sản làm cho họ không biết là mình đã và sẽ không có quyền đối với tài sản mà mình chiếm hữu, dẫn đến người chiếm hữu nhầm tưởng mình có quyền chiếm hữu hợp pháp như giao nhầm, giao thừa tài sản mà trong một hoàn cảnh cụ thể người nhận không biết là mình đã nhận nhầm, nhận thừa. Không thể biết là pháp luật cũng thừa nhận chủ thể có thể không biết được. Trong thực tế chúng ta có thể gặp những tình huống cụ thể nào đó, và với tình huống ấy thì ai cũng có thể không biết là mình đã và sẽ không có quyền đối với tài sản mình đang chiếm hữu. Nếu quy định theo hướng trên, giữa ý thức chủ quan của người chiếm hữu đã hàm chứa tính khách quan, phản ánh tính khách quan trong đó.
Ví dụ: Người chiếm hữu có được tài sản thông qua việc mua bán bình thường, thể hiện việc mua bán công khai, giá cả theo giá thị trường, bên bán có giấy tờ bằng mắt thường không thể phân biệt được thật, giả hoặc được chính cơ quan có thẩm quyền cấp, dù sau này qua giám định, qua tài liệu thu thập được mới biết là giấy tờ giả, do mua chuộc, hối lộ cho người trong cơ quan có thẩm quyền cấp… hoặc do sai lầm của cơ quan có thẩm quyền khi đo đạc cấp giấy chứng nhận đã đo lấn vào đất của người khác nên người chiếm hữu không thể biết được mình không có quyền chiếm hữu đối với phần đất lấn chiếm đó…
Với phân tích trên sẽ có ý kiến cho rằng tác giả đã nhầm lẫn, chưa tách bạch giữa ý thức chủ quan của người chiếm hữu mà nhà làm luật nhắm tới trong quy định, với sự nhìn nhận, đánh giá của người ngoài cuộc về sự chiếm hữu ấy nên đã không hiểu hết ý đồ của nhà làm luật khi quy định Điều 180. Tác giả thấy đó là hai vấn đề khác nhau nhưng không hoàn toàn biệt lập, việc bình luận theo cách trên cũng là một phương pháp nhằm làm nổi bật vấn đề chưa hợp lý.
Dù có thể có ý kiến khác nhau trong "cách” quy định của Điều 180, nhưng điều luật này đang có hiệu lực, sẽ được áp dụng trong cuộc sống, việc áp dụng phải bảo đảm công bằng, hợp lý. Do đó, không thể chỉ dựa vào Điều 180 để xác định người đang chiếm hữu tin mình chiếm hữu ngay tình là được công nhận chiếm hữu ngay tình, mà phải xem xét trong mối quan hệ với Điều 181 quy định về chiếm hữu không ngay tình để có thể giúp ta hiểu rõ hơn chiếm hữu thế nào là chiếm hữu ngay tình.
Nếu người chiếm hữu biết mình không có quyền đối với tài sản đang chiếm hữu thì người chiếm hữu không thể viện ra bất cứ căn cứ nào để bảo rằng mình tin là mình chiếm hữu ngay tình; nếu có viện dẫn ra cũng không được công nhận. Việc chiếm hữu một tài sản không phải của mình mà người chiếm hữu không biết mình không có quyền đối với tài sản đó thì trong một số trường hợp cụ thể luật buộc người chiếm hữu phải biết rằng mình không có quyền đối với tài sản mà mình đang chiếm hữu. Ví dụ đối với tài sản có giấy chứng nhận quyền sở hữu như xe máy, xe ô tô… khi mua người bán không cung cấp được đầy đủ giấy tờ nhưng do tin người mua là bạn đã dùng một thời gian mới bán cho mình, không biết là xe gian nên vẫn mua, sau này xác định xe đó chủ xe bị mất trong vụ cướp. Đây là trường hợp pháp luật buộc người mua phải biết là chiếm hữu không ngay tình, dù khi mua về ý thức người mua là ngay tình, chủ quan, đơn giản không kiểm tra kỹ, không biết nên mới mua; việc xác định người chiếm hữu biết hoặc buộc phải biết rằng mình không có quyền đối với tài sản mình đang chiếm hữu rất có ý nghĩa trong thực tiễn.
Để xác định một người chiếm hữu tài sản ngay tình hay không ngay tình còn phải xem họ chiếm hữu công khai hay không công khai.
Điều 183 đã quy định các tiêu chí về chiếm hữu ngay tình và không ngay tình:
"1. Chiếm hữu công khai là việc chiếm hữu được thực hiện một cách minh bạch, không giấu giếm; tài sản đang chiếm hữu được sử dụng theo tính năng, công dụng và được người chiếm hữu bảo quản, giữ gìn như tài sản của chính mình.
2. Việc chiếm hữu không công khai không được coi là căn cứ để suy đoán về tình trạng và quyền của người chiếm hữu được quy định tại Điều 184 của Bộ luật này.”
Như vậy, muốn xác định một người chiếm hữu tài sản ngay tình hay không ngay tình chỉ còn phải xem xét cách thức mà người đó thể hiện trong quá trình chiếm hữu, chiếm hữu có công khai hay không? cách thức mà người đang chiếm hữu thể hiện ra bên ngoài chính là ý thức chủ quan của người chiếm hữu thể hiện việc chiếm hữu của mình ra thế giới khách quan.
Khi giải quyết loại tranh chấp này, Tòa án phải thu thập những những tài liệu, chứng cứ mà người chiếm hữu tài sản đã thể hiện ý thức chủ quan của mình ra thế giới khách quan. Qua các tài liệu đó, Tòa án mới "đọc” được, mới biết được ý thức chủ quan của người chiếm hữu là ngay tình hay không ngay tình, chứ không phải chỉ căn cứ vào niềm tin của người chiếm hữu. Khi một người thực hiện việc chiếm hữu một cách minh bạch, không che giấu, không có dấu hiệu nào mờ ám, khả nghi; khai thác tài sản do mình đang chiếm hữu bình thường đúng với tính năng, công dụng của tài sản thì có thể công nhận là chiếm hữu công khai.
Thứ hai, điều kiện về thời gian chiếm hữu (khách quan): Đối với động sản phải chiếm hữu liên tục 10 năm, kể từ ngày mở thừa kế; đối với bất động sản chiếm hữu liên tục 30 năm, kể từ ngày mở thừa kế.
Một trong những điều kiện quan trọng để công nhận cho người chiếm hữu được hưởng di sản thừa kế là họ phải chiếm hữu di sản đó liên tục. Điều 182 BLDS đã quy định về chiếm hữu liên tục:
"Là việc chiếm hữu được thực hiện trong một khoảng thời gian mà không có tranh chấp về quyền đối với tài sản đó hoặc có tranh chấp nhưng chưa được giải quyết bằng một bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác, kể cả khi tài sản được giao cho người khác chiếm hữu”.
Như vậy, một trong những điều kiện để công nhận chiếm hữu liên tục là: Trong suốt quá trình chiếm hữu (từ thời điểm bắt đầu chiếm hữu cho đến thời điểm phát sinh quyền hưởng di sản theo thời hiệu) không có lúc nào việc chiếm hữu bị dừng lại, bị gián đoạn, bị đứt quãng; không có tranh chấp về quyền đối với tài sản đó hoặc có tranh chấp nhưng chưa được giải quyết bằng bản án quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác.
Hiểu chiếm hữu không chỉ với nghĩa là trực tiếp nắm giữ tài sản, mà cả quyền năng chi phối đối với tài sản mình đang chiếm hữu; điều đó có nghĩa là ngay cả khi tài sản đó người chiếm hữu không trực tiếp nắm giữ mà giao cho người khác nắm giữ thông qua một giao dịch (giữ hộ, giữ thuê…), thì dù di sản rời khỏi người chiếm hữu nhưng quyền năng của chủ thể có quyền đối với di sản không thay đổi. Do đó, thời gian người khác nắm giữ tài sản thông qua giao dịch như ví dụ trên vẫn được tính là thời gian chiếm hữu liên tục của người chiếm hữu.
Khoản 1 Điều 182 quy định trong thời gian chiếm hữu phải không có tranh chấp về quyền đối với tài sản đó, chứ không phải là bất kể tranh chấp nào cũng đều ảnh hưởng đến tính liên tục. Do đó, cần phải làm rõ tính chất của tranh chấp, nhằm giúp phân biệt tranh chấp nào sẽ ảnh hưởng đến tính liên tục, tranh chấp nào không ảnh hưởng đến tính liên tục.
Tranh chấp về quyền đối với tài sản phải được giải thích đó là tranh chấp giữa các bên về quyền năng của người chủ tài sản; ví dụ người giữ hộ cho rằng tài sản mà mình giữ hộ là tài sản của mình do bị mất trộm, do bỏ quên nên không đồng ý giao trả cho người gửi. Trong trường hợp này được xác định là có tranh chấp về quyền đối với tài sản đó, nếu có phán quyết của tòa án công nhận tài sản mà người nhận giữ hộ chính là tài sản của người giữ hộ bị mất trộm, phán quyết này có hiệu lực pháp luật sẽ làm chấm dứt tính liên tục của người chiếm hữu, như quy định của điều luật.
Trường hợp có tranh chấp trong phạm vi của quan hệ giữ hộ, giữ thuê như người giữ hộ làm hư hỏng dẫn đến tranh chấp đòi bồi thường, hoặc tranh chấp về giá cả giữ thuê, tranh chấp về đòi bồi thường thiệt hại trong quan hệ giữ thuê, vẫn không bị coi là có tranh chấp theo nghĩa tranh chấp mà Điều 182 quy định. Tranh chấp trong phạm vi của giao dịch không phải là tranh chấp về quyền đối với tài sản.
Đến đây có thể kết luận, chỉ khi nào chủ thể đang chiếm hữu di sản thỏa mãn đầy đủ điều kiện chủ quan, khách quan như phân tích trên thì mới được hưởng di sản thừa kế hết thời hiệu.

3. Chủ thể có thể được hưởng di sản hết thời hiệu là Nhà nước

Điều kiện để Nhà nước được hưởng di sản hết thời hiệu là:

– Không có người thừa kế quản lý di sản.
– Không có người chiếm hữu di sản ngay tình, liên tục, công khai trong thời hạn 10 năm đối với động sản, 30 năm đối với bất động sản vào thời điểm hết thời hiệu khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế.
Mỗi trường hợp được hưởng di sản theo thời hiệu sẽ có các tình tiết khác nhau, chủ thể trong quan hệ pháp luật đó cũng không giống nhau, nhưng mỗi loại chủ thể hưởng quyền dân sự theo thời hiệu đều có những điểm chung về điều kiện hưởng di sản theo thời hiệu, khi thỏa mãn các điều kiện đó thì chủ thể mới được công nhận có quyền hưởng di sản theo thời hiệu./.
------------------------
(1) Từ điển luật học do Bộ Tư pháp, Nhà xuất bản tư pháp phối hợp với Nhà xuất bản từ điển bách khoa tr 633, 634; tr136.
(2) Xem Điều 182 BLDS năm 2005.
Nguồn: Trích bài "Xác định các chủ thể hưởng di sản theo thời hiệu và điều kiện để chủ thể được hưởng di sản theo thời hiệu” của tác giả Tưởng Duy Lượng, nguyên Phó Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Tạp chí Kiểm sát số 02/2017

Để được tư vấn và đăng ký sử dụng dịch vụ quý khách xin vui lòng liên hệ
TỔNG ĐÀI LUẬT SƯ TƯ VẤN PHÁP LUẬT TRỰC TUYẾN 24/7: 1900 6589
TỔNG ĐÀI LUẬT SƯ TƯ VẤN PHÁP LUẬT
 1900 6589
  Lưu ý: Các thông tin pháp lý đăng tải được trả lời bởi các luật sư, chuyên viên tư vấn uy tín, giàu kinh nghiệm. Tuy nhiên tất cả các thông tin, trích dẫn chỉ mang tính chất tham khảo do các văn bản pháp luật dẫn chiếu có thể đã hết hiệu lực hoặc được thay thế tại thời điểm hiện tại. Khách hàng truy cập trang không được áp dụng một cách tùy tiện mà chưa tham khảo ý kiến của luật sư.
VIỆT PHONG - TIÊN PHONG LUẬT VIỆT

Tổng đài luật sư tư vấn pháp luật
Văn phòng phía Bắc (Hà Nội)
P.1714-CT2B, tòa nhà 789, khu đô thị Ngoại Giao Đoàn, P.Xuân Đỉnh, Q.Bắc Từ Liêm


Menu dịch vụ

CHÚNG TÔI HỖ TRỢ KHÁCH HÀNG 7 ngày trong tuần với hotline
HOTLINE TƯ VẤN PHÁP LUẬT
Bản quyền thuộc về Luật Việt Phong - Mọi sự sao chép phải được sự chấp thuận của Công ty Luật Việt Phong bằng văn bản. (© Copyright 2015 - 2019), ® All Reserved.
Gọi luật sư: 19006589